Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam được xếp hạng là quốc gia thứ 6 trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan trong giai đoạn 1999–2018. Tại thành phố Đà Nẵng, vị trí ven biển khiến địa phương thường xuyên đối mặt với các hiểm họa thiên tai khốc liệt, điển hình như cơn bão Xangsane năm 2006 gây thiệt hại kinh tế hơn 5.290 tỷ đồng và làm hư hại 2.760 điểm trường, hay đợt ngập lụt nghiêm trọng cuối năm 2018 khiến gần 2.000 học sinh phải nghỉ học khẩn cấp. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu gia tăng cả về cường độ lẫn tần suất, hệ thống giáo dục tiểu học là đối tượng dễ bị tổn thương nhất do học sinh chưa đủ kỹ năng tự bảo vệ.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng các kế hoạch phòng ngừa thiên tai tại trường tiểu học hiện nay chủ yếu xây dựng theo cơ chế áp đặt từ trên xuống (top-down), thiếu sự đánh giá điều kiện thực địa và thiếu vắng sự tham gia của các bên liên quan. Mục tiêu cụ thể của luận văn là phát triển phương pháp tiếp cận đổi mới từ dưới lên (bottom-up), ứng dụng bộ công cụ Đánh giá Khả năng Chống chịu Thiên tai của Trường học (SDRA) để đo lường năng lực của 96 trường tiểu học công lập tại 7 quận, huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2019–2020.
Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược khi cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giúp nâng cao chỉ số an toàn trường học, tối ưu hóa nguồn lực ứng phó tại chỗ và đóng góp trực tiếp vào việc thực hiện Mục tiêu Phát triển Bền vững số 4 (SDG 4) về giáo dục chất lượng và an toàn trước biến đổi khí hậu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý rủi ro thiên tai (Disaster Risk Management), Khung hành động Sendai về Giảm nhẹ rủi ro thiên tai giai đoạn 2015–2030 (SFDRR) và Lý thuyết về Năng lực chống chịu của cộng đồng (Community Disaster Resilience). Mô hình đánh giá cốt lõi là khung SDRA (School's Disaster Resilience Assessment) tích hợp 5 khía cạnh trọng yếu: Cơ sở vật chất (Physical conditions), Nguồn nhân lực (Human resources), Thể chế và chính sách (Institutional issues), Mối quan hệ đối ngoại (External relationships) và Điều kiện tự nhiên (Natural conditions).
Hệ thống đánh giá bao gồm 15 tham số và 75 biến số định lượng, vận hành theo thang đo Likert 5 mức độ kết hợp trọng số đánh giá mức độ quan trọng. Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm then chốt gồm: Giáo dục giảm nhẹ rủi ro thiên tai (DRRE), Quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng (CBDRM) và Kế hoạch phòng ngừa thiên tai học đường có sự tham gia (Participatory Disaster Preparedness Plan).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học kết hợp phân tích không gian và tham vấn chuyên gia:
- Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Điều tra toàn bộ 97 trường tiểu học công lập trên địa bàn 6 quận nội thành và 1 huyện nông thôn của Đà Nẵng. Thu về 96 phiếu khảo sát hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 98,96%), loại bỏ 1 mẫu không hợp lệ nhằm đảm bảo tính bao phủ toàn diện và loại trừ sai số chọn mẫu.
- Phỏng vấn sâu (Key Informant Interviews - KII): Thực hiện 3 vòng phỏng vấn chuyên sâu với cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo Đà Nẵng, đại diện Phòng Giáo dục và Đào tạo của 7 quận/huyện và hiệu trưởng các trường trọng điểm.
- Thảo luận nhóm tập trung (Focus Group Discussion - FGD): Triển khai tại 3 trường tiểu học đại diện cho 3 vùng địa hình đặc thù: trường Đoàn Thị Điểm (vùng ven biển), trường Ngô Quyền (vùng đồng bằng thấp trũng) và trường Lâm Quang Thự (vùng miền núi).
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phần mềm Excel để tính toán điểm bình quân gia quyền, phân tích tương quan giữa các biến số và ứng dụng hệ thống thông tin địa lý ArcGIS để trực quan hóa bản đồ phân bố 96 trường học theo mức độ chống chịu rủi ro.
- Khung thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thực địa và khảo sát được tiến hành từ tháng 4/2019 đến tháng 4/2020.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả đánh giá từ 96 trường tiểu học cho thấy mức độ chống chịu thiên tai tổng thể của các trường tiểu học tại Đà Nẵng đạt mức trung bình với điểm số 3,43/5,0 điểm. Cụ thể có 30,20% số trường đạt mức chống chịu cao, 66,67% ở mức trung bình và 3,13% rơi vào nhóm chống chịu thấp.
Khía cạnh Nguồn nhân lực đạt điểm cao nhất trong 5 chiều kích với 3,77 điểm, trong đó tham số Giáo viên và Học sinh đều đạt 3,86 điểm. Đáng chú ý, 96,87% số trường đã tích hợp kiến thức thiên tai vào các môn học và hoạt động ngoại khóa; 100% học sinh tiểu học tại huyện Hòa Vang được phổ cập kỹ năng bơi lội thông qua hệ thống bể bơi di động tài trợ. Tuy nhiên, tham số Phụ huynh chỉ đạt 3,58 điểm khi chỉ có 38,54% trường tổ chức tập huấn kỹ năng phòng chống thiên tai định kỳ cho cha mẹ học sinh.
Khía cạnh Điều kiện tự nhiên ghi nhận điểm số thấp nhất với 2,34 điểm. Bão và ngập lụt là hai loại hình thiên tai gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, được lần lượt 78,12% và 55,21% số trường xác nhận là mối đe dọa thường trực hàng năm.
Khía cạnh Thể chế bộc lộ sự mâu thuẫn lớn: Tham số Quy hoạch và Kế hoạch đạt điểm kỷ lục 4,42/5,0 điểm (với 100% trường xây dựng kế hoạch ứng phó đầu năm), nhưng tham số Ngân sách chỉ đạt mức thấp 2,15 điểm. Tương tự, tham số Huy động tài chính trong khía cạnh Quan hệ đối ngoại chỉ đạt 1,78 điểm – mức thấp nhất trong toàn bộ 15 tham số khảo sát.
Khía cạnh Cơ sở vật chất đạt 3,48 điểm nhưng tiềm ẩn rủi ro kỹ thuật: 15,63% công trình trường học xây dựng từ lâu chưa có phòng trú ẩn kiên cố, 23,96% trường hoàn toàn thiếu hệ thống hành lang thoát hiểm khẩn cấp và 6,25% trường có hệ thống thoát hiểm xuống cấp nghiêm trọng.
Thảo luận kết quả
Nghịch lý giữa điểm số kế hoạch rất cao (4,42 điểm) nhưng hiệu quả ứng phó thực tế còn lúng túng bắt nguồn từ quy trình lập kế hoạch thụ động. Các kế hoạch truyền thống chỉ sao chép chỉ thị cấp trên mà không căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất hay năng lực tài chính tại chỗ. Khi thiên tai xảy ra, việc thiếu hụt ngân sách dự phòng (2,15 điểm) khiến các trường không thể chủ động mua sắm trang thiết bị cứu hộ chuyên dụng mà chỉ chuẩn bị các vật dụng thô sơ.
Khi so sánh giữa trường có điểm số cao nhất là Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (4,19 điểm) và trường thấp nhất là Tiểu học Tiểu La (2,12 điểm), sự chênh lệch lớn nhất nằm ở chất lượng hạ tầng kiến trúc và mối liên kết cứu trợ với chính quyền địa phương. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu tiền đề tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2012 và thành phố Cẩm Phả năm 2017, khẳng định rằng sự chủ động về nguồn lực tại chỗ quyết định 80% khả năng phục hồi của cơ sở giáo dục.
Để minh họa trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn hiệu quả thông qua biểu đồ mạng nhện (Radar chart) thể hiện tương quan 5 chiều kích SDRA, kết hợp bản đồ nhiệt GIS phân tầng 3 vùng sinh thái (ven biển, đồng bằng thấp trũng, miền núi) nhằm làm nổi bật các điểm nóng dễ bị tổn thương trên địa bàn thành phố.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả khảo sát thực chứng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá theo quy trình tiếp cận từ dưới lên:
-
Chuyển đổi mô hình lập kế hoạch phòng ngừa thiên tai sang cách tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng trường học:
Thành lập Ban Quản lý rủi ro thiên tai học đường tại từng cơ sở giáo dục, tổ chức đánh giá hiện trạng theo bộ công cụ SDRA trước thềm năm học mới. Mục tiêu đạt 100% trường tiểu học sở hữu bản kế hoạch ứng phó riêng biệt phù hợp với đặc thù địa hình vào năm 2022. Chủ thể thực hiện: Ban Giám hiệu phối hợp cùng đại diện giáo viên, phụ huynh và chính quyền cấp xã/phường.
-
Thiết lập cơ chế phân bổ và tự chủ ngân sách ứng phó khẩn cấp:
Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng và Sở Tài chính cấp hạn mức kinh phí dự phòng hàng năm chiếm từ 3% đến 5% tổng chi thường xuyên của trường cho công tác phòng ngừa thiên tai. Nâng điểm tham số Ngân sách từ 2,15 lên trên 3,50 điểm trong giai đoạn 2021–2023. Chủ thể thực hiện: Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các quận/huyện.
-
Cải tạo, nâng cấp kết cấu hạ tầng phòng chống thiên tai đạt chuẩn an toàn:
Tiến hành rà soát kỹ thuật, gia cố mái che, nâng cao sàn lưu trữ hồ sơ giảng dạy vượt mức ngập lịch sử và lắp đặt hệ thống cảnh báo sớm, lối thoát hiểm đạt chuẩn. Mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn tỷ lệ 23,96% trường học thiếu lối thoát hiểm trước năm 2025. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp Đà Nẵng.
-
Chuẩn hóa chương trình tập huấn thực hành và diễn tập sơ tán định kỳ:
Mở rộng các khóa đào tạo kỹ năng sơ cấp cứu, kỹ năng ứng phó ngập lụt cho phụ huynh và cộng đồng lân cận, nâng tỷ lệ tham gia của cha mẹ học sinh từ 38,54% lên trên 85% vào năm 2024. Tổ chức ít nhất 2 cuộc diễn tập sơ tán thực tế mỗi năm học. Chủ thể thực hiện: Nhà trường phối hợp cùng Hội Chữ thập đỏ và lực lượng Dân quân tự vệ địa phương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Cán bộ quản lý giáo dục và nhà hoạch định chính sách công:
Cán bộ tại Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo các địa phương ven biển sử dụng luận văn làm tài liệu định hướng ban hành khung tiêu chuẩn trường học an toàn và tích hợp tiêu chí SDRA vào kiểm định chất lượng giáo dục.
-
Ban Giám hiệu và đội ngũ giáo viên các trường phổ thông:
Hiệu trưởng và giáo viên tiểu học ứng dụng trực tiếp bộ câu hỏi 75 biến số để tự đánh giá mức độ an toàn của trường mình, từ đó xây dựng kế hoạch sơ tán, bảo vệ tài sản và tích hợp bài giảng biến đổi khí hậu sinh động vào môn Tự nhiên và Xã hội.
-
Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức nhân đạo quốc tế:
Các chuyên gia dự án thuộc các cơ quan phát triển quốc tế sử dụng dữ liệu định lượng và mô hình thí điểm tại 3 trường (Đoàn Thị Điểm, Ngô Quyền, Lâm Quang Thự) để thiết kế các dự án tài trợ bể bơi trường học, tập huấn cứu hộ học đường và xây dựng năng lực chống chịu thiên tai cho trẻ em.
-
Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Môi trường và Biến đổi khí hậu:
Nhà nghiên cứu tham khảo khung phương pháp luận kết hợp phân tích thứ bậc trọng số, khảo sát xã hội học và mô hình hóa GIS trong đánh giá tính dễ bị tổn thương của các công trình công cộng.
Câu hỏi thường gặp
-
Bộ công cụ SDRA đánh giá năng lực chống chịu thiên tai học đường dựa trên những trụ cột nào?
SDRA phân tích toàn diện 5 khía cạnh cốt lõi bao gồm Cơ sở vật chất, Nguồn nhân lực, Thể chế - Chính sách, Quan hệ đối ngoại và Điều kiện tự nhiên. Cấu trúc này chia nhỏ thành 15 tham số và 75 biến số định lượng, được kiểm chứng thực nghiệm tại 96 trường tiểu học ở Đà Nẵng với thang điểm chuẩn hóa từ 1 đến 5.
-
Tại sao có sự chênh lệch lớn giữa điểm số kế hoạch phòng ngừa và khả năng ứng phó thực tế tại các trường?
Tham số Kế hoạch đạt 4,42 điểm do 100% trường đều ban hành văn bản hành chính đầu năm học. Tuy nhiên, khả năng triển khai thực tế bị hạn chế vì kế hoạch làm theo khuôn mẫu từ trên xuống, thiếu sự tham gia của giáo viên, phụ huynh và thiếu nguồn ngân sách chuyên biệt (chỉ đạt 2,15 điểm).
-
Nguy cơ thiên tai khác biệt như thế nào giữa 3 khu vực địa hình tại Đà Nẵng?
Các trường vùng ven biển (chiếm 71 trường) chịu tác động mạnh nhất từ gió bão và triều cường. Vùng đồng bằng thấp trũng (17 trường) chịu ảnh hưởng bởi ngập lụt đô thị cục bộ kéo dài. Vùng miền núi huyện Hòa Vang (9 trường) đối mặt với nguy cơ lũ quét, sạt lở và chia cắt giao thông ven lưu vực sông Túy Loan.
-
Luận văn đưa ra giải pháp gì nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt ngân sách phòng chống thiên tai tại các trường tiểu học?
Nghiên cứu kiến nghị cơ chế cho phép nhà trường trích lập quỹ dự phòng thiên tai từ 3% đến 5% ngân sách hoạt động thường xuyên, đồng thời xây dựng quy chế liên kết kết nghĩa với lực lượng quân đội, hội phụ huynh và doanh nghiệp địa phương để huy động nguồn lực phi tiền mặt như nhân công dọn dẹp và thiết bị cứu hộ.
-
Quy trình lập kế hoạch từ dưới lên (bottom-up) có thể áp dụng cho các tỉnh thành khác không?
Quy trình 4 bước đã được kiểm chứng tính khả thi tại 3 trường thí điểm đại diện cho 3 vùng sinh thái khác nhau tại Đà Nẵng. Khung phương pháp luận này hoàn toàn có thể nhân rộng cho hệ thống trường học tại các tỉnh duyên hải miền Trung như Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi.
Kết luận
- Luận văn đã hoàn thành đánh giá thực nghiệm năng lực chống chịu thiên tai tại 96 trường tiểu học công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với điểm trung bình đạt 3,43/5,0 điểm.
- Nghiên cứu chỉ ra điểm nghẽn nghiêm trọng nhất trong công tác ứng phó thiên tai học đường nằm ở nguồn lực tài chính độc lập (2,15 điểm) và cơ sở hạ tầng an toàn (23,96% trường thiếu lối thoát hiểm).
- Đóng góp khoa học then chốt là xây dựng thành công quy trình 4 bước lập kế hoạch phòng ngừa thiên tai học đường theo hướng tiếp cận từ dưới lên (bottom-up), kết hợp tham vấn đa bên.
- Khẳng định nguồn nhân lực vững vàng (3,77 điểm) và sự hỗ trợ chặt chẽ từ cộng đồng địa phương (3,99 điểm) là đòn bẩy quan trọng nhất giúp giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
- Cung cấp khung luận cứ thực tiễn phục vụ lộ trình chuẩn hóa tiêu chí trường học an toàn của ngành giáo dục thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021–2025.
Quý độc giả, cán bộ quản lý và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn để khai thác chi tiết bộ chỉ số 75 biến số và áp dụng mô hình lập kế hoạch an toàn học đường trước biến đổi khí hậu ngay hôm nay.