CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU 1.1 Định giá cổ phiếu 1.1 Khái niệm Định giá cổ phiếu chính là việc dùng các phương pháp tài chính để xác định giá trị của cổ phiếu tại một thời điểm nhất định. Giá trị này còn gọi là giá trị thực hay giá trị nội tại, chính là mức giá xứng đáng phải có của cổ phiếu. Sự khác biệt giữa giá trị nội tại này với giá đang giao dịch trên thị trường sẽ đưa ra tín hiệu đầu tư. Nếu giá trị cổ phiếu > giá thị trường : nên mua cổ phiếu Nếu giá trị cổ phiếu < giá thị trường : nên bán cổ phiếu Một công ty hoạt động rất tốt cùng với bộ máy quản lý hiệu quả, nhưng nếu cổ phiếu của nó đang có giá thị trường quá cao so với giá trị nội tại của nó thì đầu tư vào là một quyết định rủi ro cao.
Ngược lại, nếu một công ty hoạt động không nổi bật nhưng có thị giá thấp hơn nhiều so với giá trị thực thì đó là một cơ hội đầu tư tốt. Như vậy, định giá cổ phiếu có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động đầu tư. Chính định giá cổ phiếu mới đem lại câu trả lời nên mua hay bán cổ phiếu.2 Sự cần thiết phải định giá cổ phiếu Đối với nhà đầu tư: Nhà đầu tư khi muốn đầu tư vào một loại cổ phiếu nào đó thì luôn xem xét, tìm hiểu cổ phiếu trên những yếu tố như hiệu quả tài chính, bộ máy quản lý điều hành và xu hướng phát triển của công ty trong tương lai. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất chính là phải xem xét giá thị trường của cổ phiếu đó là hợp lý hay không, rẻ hay đắt và nên mua hay bán.
Định giá cổ phiếu giúp trả lời câu hỏi đó. Nhờ biết được giá trị thực của cổ phiếu thông qua các phương pháp định giá khoa học, nhà đầu tư không đầu tư theo cảm tính mà có cơ sở vững chắc đối với các giao dịch của mình. Định giá càng chính xác thì hiệu quả đầu tư càng cao và giảm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 thiểu rủi ro. Do vậy, đối với nhà đầu tư chứng khoán, định giá cổ phiếu trở thành công cụ không thể thiếu trong quá trình đầu tư.
Bên cạnh đó, với giá trị định giá có được, nhà đầu tư cũng dễ dàng xác định được các ngưỡng giá mục tiêu để mua vào, bán ra và từ đó tính toán được tỷ suất sinh lời. Nhờ vậy mà việc đầu tư chứng khoán đảm bảo được tính cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro. Đối với công ty chứng khoán: Đối với công ty chứng khoán, định giá chứng khoán là một hoạt động chuyên môn chủ yếu làm cơ sở để tư vấn đầu tư cho khách hàng của mình. Nhà đầu tư chứng khoán gồm hai nhóm chủ yếu, nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức.
Vì định giá cổ phiếu đòi hỏi nghiệp vụ chuyên môn sâu về tài chính, phần lớn nhà đầu tư cá nhân không thể thực hiện được mà phải cần đến sự tư vấn của công ty chứng khoán. Theo đó, công ty chứng khoán với đội ngũ chuyên viên được trang bị nghiệp vụ chuyên môn cũng như kinh nghiệm trên thị trường chứng khoán sẽ thực hiện phân tích đầu tư, định giá cổ phiếu và đưa ra khuyến nghị mua/bán cho nhà đầu tư. Công tác định giá càng chính xác thì những ý kiến phân tích đầu tư của công ty chứng khoán càng có giá trị và nâng cao uy tín của công ty. Do vậy, định giá cổ phiếu gián tiếp hỗ trợ bộ phận môi giới mở rộng khách hàng, gia tăng thị phần.
Bên cạnh đó, bản thân công ty chứng khoán với nghiệp vụ tự doanh cũng là một nhà đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán nên cũng phải thực hiện định giá cổ phiếu trước khi đầu tư. Như vậy, định giá cổ phiếu là yếu tố trực tiếp góp phần quyết định thành công của hoạt động tự doanh. Trong bối cảnh Việt Nam, lợi nhuận của công ty chứng khoán phần lớn do hoạt động tự doanh đem lại thì công tác định giá cổ phiếu càng có ý nghĩa. Đối với thị trường chứng khoán Định giá cổ phiếu giúp xác định giá trị mà cổ phiếu đáng phải có.
Trong điều kiện thị trường chứng khoán hoạt động bình thường, các cổ phiếu sẽ giao dịch ở mức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 giá gần với giá trị nội tại. Đối với thị trường chứng khoán đang tăng trưởng nóng (bull market), giá cổ phiếu có xu hướng vượt cao hơn giá trị thực này. Ngược lại, khi thị trường chứng khoán giảm mạnh (bear market), nhiều cổ phiếu có xu hướng có giá thị trường thấp hơn giá trị thực. Như vậy, thông qua định giá cổ phiếu giúp nhận định tính chất tăng trưởng của thị trường chứng khoán tại điểm định giá.
Từ đó, cung cấp một cái nhìn tổng thể về thị trường chứng khoán cho tất cả các chủ thể tham gia để hành động phù hợp. Kết quả định giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán sẽ tạo ra tác động thông tin, phát tín hiệu đối với những cổ phiếu có thị giá vượt xa giá trị thực hoặc thị giá quá thấp so với giá trị thực. Nhà đầu tư thực hiện theo khuyến nghị mua/bán đó sẽ tạo ra tác động cung cầu cổ phiếu làm cho thị giá tiến gần đến giá trị thực. Điều này làm tăng tính hiệu quả của thị trường chứng khoán bởi giá thị trường của cổ phiếu phản ánh giá trị hợp lý mà cổ phiếu đáng phải có.2 Các phương pháp định giá cổ phiếu 1.1 Phương pháp chiết khấu dòng tiền Đây là phương pháp cơ bản để định giá cổ phiếu.
Theo đó, giá trị của một cổ phiếu chính là hiện giá của các dòng tiền có được từ cổ phiếu đó trong tương lai, chiết khấu với một tỷ lệ phản ảnh được rủi ro của các dòng tiền trên. Lý luận cơ bản của phương pháp này như sau: Nhà đầu tư mua một cổ phiếu vì kỳ vọng cổ phiếu đó sẽ tạo ra các dòng tiền cho nhà đầu tư trong tương lai. Giá trị của cổ phiếu sẽ phụ thuộc vào độ lớn cũng như mức độ rủi ro phản ánh qua tỷ suất chiết khấu. Cổ phiếu có các dòng tiền lớn và rủi ro thấp sẽ có giá trị cao hơn cổ phiếu có dòng tiền nhỏ và rủi ro cao.
Công thức tổng quát: ∞ CFt P =∑ (1.1) t =1 (1 + r )t P: giá trị cổ phiếu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CFt: dòng tiền của cổ phiếu trong năm t. Tùy theo dòng tiền sử dụng mà có các phương pháp chiết khấu khác nhau: phương pháp DDM (DDM: Dividend Discount Model), phương pháp FCFE (Free Cashflow to Equity), phương pháp FCFF (Free Cashflow to the Firm). r: tỷ lệ chiết khấu là chi phí sử dụng vốn cổ phần hoặc chi phí sử dụng vốn bình quân Chi phí sử dụng vốn cổ phần Chi phí sử dụng vốn cổ phần chính là tỷ suất sinh lời của cổ đông, phản ánh mức tỷ suất lợi nhuận mà tại đó nhà đầu tư bù đắp được rủi ro gánh chịu khi đầu tư vào cổ phiếu. Chi phí sử dụng vốn cổ phần có thể được tính theo một trong hai phương pháp: mô hình CAPM hoặc mô hình Gordon.
Theo mô hình CAPM (Capital Asset Pricing Model) chi phí sử dụng vốn cổ phần phụ thuộc vào độ rủi ro của cổ phiếu: rE = rf + beta x (rm – rf) (1.2) Trong đó: rE: chi phí sử dụng vốn cổ phần rf : tỷ suất sinh lời phi rủi ro rm: tỷ suất sinh lợi thị trường. (rm – rf ): phần bù rủi ro thị trường, beta: hệ số đo lường rủi ro của cổ phiếu. Tỷ suất sinh lời phi rủi ro là suất sinh lợi (current yield) của trái phiếu chính phủ do trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán hầu như không có rủi ro. Tỷ suất sinh lợi thị trường chính là tỷ suất sinh lợi của một danh mục đầu tư đa dạng hóa hoàn toàn.
Trong mô hình CAPM, danh mục thị trường bao gồm toàn bộ thị trường chứng khoán. Phần bù rủi ro thị trường là chênh lệch giữa tỷ suất sinh lợi thị trường và tỷ suất sinh lợi phi rủi ro. Phần bù thể hiện mức sinh lợi tăng thêm mà nhà đầu tư đòi hỏi khi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 nắm giữ danh mục thị trường (có rủi ro) so với nắm giữ tài sản phi rủi ro (trái phiếu chính phủ). Beta là hệ số đo lường rủi ro cổ phiếu vì beta thể hiện mối tương quan giữa mức sinh lời của cổ phiếu so với mức sinh lời của danh mục thị trường.3) Var (rm ) Theo mô hình Gordon (đặt theo tên tác giả- giáo sư Gordon), với giả định là cổ tức của cổ phiếu sẽ tăng trưởng đều vĩnh viễn với tỷ lệ g, khi đó tỷ suất sinh lời của cổ đông là: D1 rE = +g (1.4) P0 với D1: cổ tức của cổ phiếu trong năm sau P0: thị giá cổ phiếu hiện tại Mô hình Gordon không đòi hỏi dữ liệu quá khứ để tính toán tỷ suất sinh lời của cổ đông, nhưng hạn chế lớn là phải ước tính tốc độ tăng trưởng trong tương lai đồng thời chỉ áp dụng được trong trường hợp cổ tức tăng trưởng đều vĩnh viễn.
Chi phí sử dụng vốn bình quân WACC (Weighted Average Cost Of Capital) WACC = rE x wE + rDx(1-t) x wD (1.5) Trong đó: wE: tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn công ty wD: tỷ trọng nợ trong cơ cấu vốn công ty rD: chi phí sử dụng nợ vay của công ty t: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Chi phí sử dụng vốn bình quân của công ty phản ánh chi phí cơ hội của tất cả các chủ cung cấp vốn cho công ty, bao gồm cả chủ nợ và cổ đông. Nếu các chủ cung cấp vốn có thể tìm thấy cơ hội sinh lời tốt hơn ở nơi khác với cùng mức độ rủi ro, họ sẽ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 không sẵn sàng cho công ty vay hoặc mua cổ phiếu của công ty trừ khi chi phí sử dụng vốn này bằng với chi phí cơ hội. Cấu trúc vốn của công ty bao gồm nợ và vốn chủ sở hữu: wE + wD = 1 (1.6) Vì tính chất dài hạn của dòng tiền chiết khấu, cấu trúc vốn sử dụng không phải là cấu trúc vốn quá khứ mà là cấu trúc vốn mục tiêu của công ty trong tương lai. Chi phí sử dụng nợ vay là chi phí doanh nghiệp phải chịu để vay vốn tài trợ cho hoạt động kinh doanh.