CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát về tình hình nghiên cứu và sử dụng SĐTD 1. Nghiên cứu và ứng dụng SĐTD trên thế giới Vào những năm 70 của thế kỉ XX, Tony Buzan đã xây dựng mô hình và phát triển SĐTD.
Từ đó đến nay, SĐTD được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống và giáo dục trên toàn thế giới. Tony Buzan cho rằng: “SĐTD là biểu hiện của tư duy mở rộng, cho nên nó có chức năng tự nhiên của tư duy. Đây là kĩ thuật đồ họa đóng vai trò chiếc khóa vạn năng để khai thác tiềm năng của bộ não” [17]. Tony Buzan xác định SĐTD gồm 4 đặc điểm chính là: “Đối tượng nhận thức được tóm lược trong một hình ảnh trung tâm; Từ hình ảnh trung tâm, chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh; Các nhánh được cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết; Những vấn đề ở các thứ bậc thấp hơn cũng được biểu thị bởi các đường liên kết với các nhánh có thứ bậc cao hơn; Các nhánh cùng thứ bậc tạo thành một cấu trúc nút liên kết với nhau” ([17], tr 66-67).
Trong cuốn “The Mind Map Book”, Tony Buzan và Barry Buzan đã đưa ra lợi ích của việc sử dụng SĐTD trong công việc (phân tích, giải quyết vấn đề, ghi nhật kí) hoặc trong kinh doanh (hội họp, thuyết trình, quản lí) (theo [17], tr 195-220; tr 270- 302). Các tác giả cũng nghiên cứu việc sử dụng SĐTD cho đối tượng là học sinh, sinh viên trong thực hiện các bài tiểu luận, viết văn, các kì thi và cho đối tượng là GV trong việc soạn ghi chú cho bài giảng, trình bày bài giảng trên lớp, làm công cụ để kiểm tra kiến thức và mức độ hiểu bài của người học (theo [18]; tr 233-269). Trong tác phẩm “Ứng dụng của SĐTD”, Joyce Wycoff cho rằng, SĐTD cho phép tổ chức các ý tưởng trong ít phút, thúc đẩy sáng tạo, phá vỡ trở ngại mà người viết gặp phải và cung cấp một cơ chế động não hiệu quả ([14]; tr15). Tác giả đã nghiên cứu, đưa ra những tác dụng cụ thể đối với GV và HS theo từng bước của SĐTD trong việc phát triển kĩ năng viết ([14]; tr 85-108), khả năng thuyết trình ([14]; tr161-178), xây dựng và quản lí các kế hoạch ([14]; tr109-128), Trong mỗi ứng dụng, tác giả trình bày các bước tiến hành và những điểm cần lưu ý để xây dựng và sử dụng hiệu quả SĐTD.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Nhóm tác giả J.Rebaud trong tác phẩm “Sắp xếp ý tưởng với sơ đồ tư duy” đưa ra lí giải vì sao cần sử dụng SĐTD, cách xây dựng và những lợi ích đạt được khi sử dụng SĐTD trong quản lí công việc, ghi chú, điều hành cuộc họp, quản lí dự án [7]. Ở Việt Nam, SĐTD đã được sử dụng trong dạy học ở các cấp học và các môn học khác nhau như Toán, Lí, Văn, Tiếng Anh,… nhằm tạo hứng thú cho học sinh để các em ghi nhớ, hệ thống hóa, liên kết các mạch kiến thức và tái hiện bài học tốt hơn. Có thể điểm qua một số tác giả sau: Tác giả Hoàng Đức Huy (2009) giới thiệu kĩ thuật vẽ SĐTD bằng tay và bằng phần mềm vi tính, trong đó có những ví dụ vận dụng trong dạy học ở trường mẫu giáo, trường tiểu học. Nhóm tác giả Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy viết cuốn sách Dạy tốt- học tốt ở Tiểu học bằng SĐTD (2011), trong đó đưa ra những hướng dẫn thiết kế và gợi ý một số hướng dẫn cách sử dụng SĐTD trong dạy học các môn học ở cấp tiểu học [6].
Ngoài ra, có một số bài báo cũng đề cập đến việc ứng dụng SĐTD trong dạy học các môn học ở tiểu học. Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay, ngành giáo dục được giao trọng trách phải đào tạo được đội ngũ GV đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới, có năng lực chuyên môn, vững vàng và phương pháp làm việc khoa học với tư duy sáng tạo để có khả năng giải quyết vấn đề phức hợp trong các tình huống thay đổi, đáp ứng những yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Với hình thức ghi chép bằng SĐTD của mỗi người, bắt đầu từ hình ảnh trung tâm là vấn đề chính tỏa ra các nhánh kết hợp nét vẽ, màu sắc, từ khóa để suy nghĩ linh hoạt đồng thời tiếp thu và ghi nhớ nhiều thông tin một cách vững chắc hơn. Như vậy ta thấy được hiệu quả của SĐTD trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, đặc biệt là trong giáo dục.
SĐTD đang được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các thầy cô giáo. Nghiên cứu trong nước (nước CHDCND Lào) Qua tìm hiểu tình hình sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học ở nước CHDCND Lào, chúng tôi nhận thấy SĐTD bước đầu đã được đưa vào triển khai dạy học ở một số trường. Tuy nhiên, việc triển khai này chỉ mang tính tự phát và chưa mang tính đồng bộ theo một số chiều hướng sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - SĐTD chủ yếu được sử dụng ở các Trường Cao đẳng, Trường Trung cấp nghề do một số giáo viên ở các trường này được đi học, đào tạo hoặc bồi dưỡng ở nước ngoài như Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc. được tiếp cận với kĩ thuật dạy học này và áp dụng vào quá trình giảng dạy của bản thân hoặc chia sẻ với đồng nghiệp.
Tuy nhiên, việc áp dụng hầu hết là kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có của các nhà giáo dục nước ngoài. - Đối với các trường phổ thông, SĐTD bước đầu được phổ biến tới các giáo viên ở trường tiểu học nhờ việc chia sẻ, bồi dưỡng của các thầy cô ở các trường sư phạm vào thời gian hè. Mặc dù vậy nhưng việc triển khai vẫn chưa được rộng rãi và giáo viên chưa thành thạo kĩ thuật dạy học này. Có thể khẳng định rằng, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học bài bản nào về việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Toán lớp 5 ở nước CHDCND Lào.
Đó chính là lí do thúc đẩy tôi thực hiện nghiên cứu đề tài luận văn này với mong muốn những kết quả nghiên cứu sẽ được áp dụng triển khai và sử dụng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 5 ở nước CHDCND Lào. Một số vấn đề cơ bản về tư duy 1. Khái niệm Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của con người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho con người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó. Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người.
Trong quá trình đó, con người so sánh các thông tin, dữ liệu thu được từ nhận thức cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau. Trải qua các quá trình khái quát hóa và trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lý luận. Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ biến, các quy luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vật nhất định. Vì vậy, tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được từ trước [8].
Theo Tony Buzan (2010), tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận.Ơ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Theo triết học duy tâm khách quan, “tư duy là sản phẩm của "ý niệm tuyệt đối" với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất”. Theo George Wilhemer Fridrick Heghen: "Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện mà thôi". “Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con người và đảm bảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mỗi liên hệ hợp với các quy luật của thực tại”.
Những đặc điểm cơ bản của tư duy - Tính có vấn đề của tư duy Tư duy chỉ nảy sinh trong hoạt động thực tiễn xuất hiện một mục đích mới, một vấn đề mới mà những phương pháp, phương tiện cũ không thể giải quyết được. Những hoàn cảnh như thế gọi là hoàn cảnh có vấn đề. Không phải tất cả các hoàn cảnh có vấn đề nào cũng làm nảy sinh tư duy. Muốn làm xuất hiện một quá trình tư duy thì hoàn cảnh có vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ.
Ví dụ: Trong quá trình dạy học, để tạo hứng thú và khơi gợi nhận thức của học sinh, giáo viên cần đưa ra những tình huống có vấn đề. Tình huống ấy vừa gắn bó và gần gũi với vốn sống của học sinh, vừa phải liên quan tới vốn kiến thức đã có của các em. Tuy nhiên, bằng vốn kiến thức đó học sinh chưa đủ để giải quyết vấn đề mà vẫn cần đến sự hỗ trợ, gợi mở từ phía giáo viên. Cũng vậy, trong quá trình giao bài tập cho học sinh, giáo viên cần đưa ra những bài tập không quá dễ hoặc quá khó mà cần phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh.
- Tính gián tiếp của tư duy Tư duy phát hiện ra bản chất của sự vật, “hiện tượng và quy luật chi phối chúng nhờ công cụ, phương tiện và các thành tựu trong hoạt động nhận thức của loài người và kinh nghiệm của cá nhân mình. Tính gián tiếp còn biểu hiện trong ngôn ngữ. Con người luôn dùng ngôn ngữ để tư duy. Nhờ đặc điểm này mà tư duy đã mở rộng không giới hạn phạm vi nhận thức của con người”.
Chẳng hạn, trong dạy học hình thành biểu tượng về phép nhân 3 × 2 = 6, giáo viên sẽ sử dụng đồ dùng trực quan là 3 cặp que tính, mỗi cặp có 2 que tính. Khi đó, các que tính được coi là phương tiện trực quan đóng vai trò hỗ trợ gián tiếp cho học sinh tư duy để hình thành phép tính. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.