CHƯƠNG 1. CO SỚ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về dạy học phân hóa hướng vào sự phát triển năng lực trí tuệ Dạy học phân hóa là một quan niệm dạy học hiện đại trong đổi mới giáo dục.
Với phương pháp này, GV cần nỗ lực hơn để đáp ứng sự khác biệt giữa người học trong lớp học về năng lực, phong cách học tập (PCHT), sở thích và nhu cầu học tập. Mô hình dạy học phân hóa (DHPH) hướng tới tạo ra môi trường học tập mà người học được “tự giác tự do, khám phá” kiến thức, kĩ năng thông qua các hình thức tổ chức, nội dung, phương pháp DHPH phù hợp với trình độ nhận thức, PCHT khác biệt của HS, đáp ứng định hướng đổi mới giáo dục hiện nay là “lấy người học làm trung tâm”. Cuối thế kỉ XX, nhiều quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu và vận dụng DHPH trong chương trình giảng dạy. Tư tưởng về công tác dạy học là để đáp ứng cho nhu Cầu của người học đã được các nhà giáo dục học như J.Clapare de nhấn mạnh với các lý thuyết nền tảng sau, làm cơ sở khoa học của DHPH: 1) Lý thuyết vùng phát triển gần của L.
Vygotsky cho rằng dạy học cần được thực hiện và thiết kế dựa trên kinh nghiệm sống cùa người học, đảm bảo tính vừa sức với mồi một cá nhân bởi HS không chỉ khác nhau ở vùng phát triển hiện tại mà còn khác nhau trong vùng phát triển gần nhất. 2) Thuyết đa trí tuệ của Gardner (1993), với quan niệm trí thông minh là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sàn phẩm mà các giải pháp hay sản phấm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa, cho rằng mỗi người đều có ít nhất 8 loại trí tuệ khác nhau. Và mồi người đều có ít nhất sự pha trộn độc đáo của 2 loại cho đến nhiều hơn giữa các dạng trí tuệ này.1 Các loại hình trí thông minh Trí thông minh âm nhạc Do vậy, môi HS cỏ một năng lực nhận thức và phong cách học tập riêng, người dạy cần đáp ứng nhu cầu của mồi HS bằng cách áp dụng các chiên lược học tập khác nhau với từng cá nhân HS và với từng loại trí tuệ. Trong Lý thuyêt học tập trài nghiệm của David Kold vào năm 1984, ông đã đưa ra một mô hình về phong cách học tập với 4 kiểu phong cách khác nhau, bao gồm: hội tụ, phân kì, đồng hóa và điều chỉnh.
Dựa trên mô hình này, hai nhà tâm lý học người Anh là Peter Honey và Alan Mumford đã phát triển bộ công cụ phân loại 4 PHCT cơ bản, bao gồm: người học hành động, người học phản ứng, người học thực dụng và người học lý thuyêt. Mô hình học tập VAK (Visual - nhìn, Auditory - nghe, Kinaesthetic - vận động) được nhà tâm lý học Neil D. Fleming phát triên trong những năm 1987 để phân loại những cách học tập phổ biến nhất. Trong năm 1978, Rita Dunn và Kenneth Dunn đã xuất bản cuốn sách có tựa đề "Dạy sinh viên thông qua PCHT cá nhân của họ".
Từ đó, DHPH đã trở thành một trào lưu 8 được nghiên cứu rộng khắp Mĩ, Canada, Tây Âu. Các nghiên cứu về DHPH của Hall (2022), Batt & Lewis (2005), Brimijoin & Narvaez (2008),. đều chỉ ra định hướng chung của DHPH, theo đó, GV cần điều chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp với phẩm chất năng lực của từng cá nhân HS. về mặt thực tiễn, vào năm 1990, một hình thức "trường học tự chọn" xuất hiện lần đầu tại bang Virginia, Hoa Kỳ, và sau đỏ đã được áp dụng rộng rãi trong một số bang và khu vực của các quốc gia phát triển.
Với mô hình này, HS là người tự do xây dựng thời gian biếu và cách thức học tập cho bản thân, từ nội dung, phương pháp, thời gian dành cho mỗi môn học đến GV dạy từng môn học của mình. Được thiết kế riêng cho từng cá nhân, chương trình học, kế hoạch học tập và thời khóa biếu đáp ứng phù hợp với năng lực và mong muốn cá nhân. Trong hai tác phẩm “Lớp học phân hóa: Đáp ứng các nhu cầu của người học” (1999,2014) [22]và “Đánh giá và sự thành công cùa HS trong lớp học phân hóa (2003) [23], Tomlinson tổng kết các nghiên cứu mới nhất về DHPH sau 15 năm nghiên cứu và thực hiện DHPH ở các mức độ, các đối tượng, trong các lớp và các loại trường học khác nhau. Công tác DHPH đòi hỏi GV phải thể hiện được mục đích học tập bắt nguồn từ các tiêu chuấn về nội dung nào nhưng được thực hiện một cách linh hoạt ra sao để đăm bảo mọi HS đều tham gia hoạt động học và đều hiểu bài.
Tomlinson nhấn mạnh đến 3 yếu tố của chương trình DH có thể được phân hóa là: Yếu tố thú’ nhất là phân hóa về nội dung (dạy cái gì?): Phân hóa nội dung cùa bài học dựa trên những kiến thức HS đã biết; Yếu tố thứ hai là phân hóa về quy trình (dạy như thế nào?): GV tổ chức các hoạt động học tập phân hóa dựa trên nhu cầu, lợi ích và PCHT của HS; Yếu tố thứ ba là phân hóa về sản phẩm học tập (kết quả mong đợi sau 9 mồi bài học là gì?): Những điều HS cần đạt được sau quá trình DH và được thể hiện qua bài tập thông qua hoạt động đánh giá. Dựa trên thuyết đa trí tuệ của Gardner và các nghiên cứu về hoạt động nhận thức khác, Tomlinson đã xây dựng một số cơ sờ lý luận của DHPH đáng chú ý, nhấn mạnh PCHT đa dạng và các loại trí tuệ của HS. Các nghiên cứu về DHPH của Tomlinson chủ yếu áp dụng trên đối tượng HS phổ thông, trong các môn học khác nhau như toán học, văn học, ngôn ngữ học, hóa học, sinh học. Có thể nói, đây là một nghiên cứu làm cơ sở nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo sau đó để thực hiện tổ chức DHPH trên các đối tượng HS và thông qua một môn học cụ thể [22], [23], David và Kimberly (2007) trong tác phẩm "Xây dựng đội ngũ nhà giáo: một cách tiếp cận kiến tạo để nhập môn Giáo dục học" chia sẻ quan điểm tương đồng với Tomlinson.
Theo tác giả, DHPH cần dựa trên việc nhận biết và tận dụng các PCHT riêng biệt và các loại trí tuệ khác nhau của HS. GV cần lập kế hoạch và thiết kế bài giảng tích hợp nhiều chiến lược giảng dạy nhằm tận dụng và công nhận sự đa dạng trong lớp học. Vậy DHPH bao gồm các hoạt động sau đây: i) Điều chỉnh nội dung giảng dạy để phù hợp với năng lực, kinh nghiệm và mối quan tâm của HS. ii) Xây dựng và đưa ra nhiều chương trình học riêng biệt với các mục đích khác nhau đế đạt được mục tiêu chung trong học tập.
iii) Tạo cơ hội cho HS có thể hiểu được kiến thức của mình theo nhiều cách có ý nghĩa, iv) Tạo điều kiện cho sự đa dạng về môi trường học tập, dựa trên nhu cầu của từng nhóm HS có chung các đặc điểm về PCHT, mà không cần yêu cầu xây dựng kế hoạch giảng dạy riêng cho từng HS. Thay vào đó, phương pháp này yêu cầu người dạy tìm hiểu các nhu cầu khác nhau, sau đó nhóm HS có nhu cầu hoặc sở thích tương tự để giáo dục có thể đáp ứng nhu cầu cùa từng nhóm người học. Các nghiên cứu về phương pháp dạy học phân hóa ở cấp độ vĩ mô Nhà giáo dục người Đức Johann Sturm (1507-1589) đã xuất bản tác phẩm "Phương thức tốt nhất để mở cửa các thiết chế học tập" vào năm 1538, thể hiện rõ cách thực hiện việc phân cấp quá trình học tập với các phương pháp giảng dạy mới, trong đó có đề cập đến phương pháp DHPH (xây dựng hệ thống lớp học phân hóa, phân loại tài liệu, bàn về cách tổ chức quản lý trường học). Nhà giáo dục học vĩ đại người Tiệp Khắc J.Comenxki (1592- 1670) cũng đã đề xuất đến một hệ thống các trường học dành cho các lứa tuổi khác nhau, là người đầu tiên trong lịch sử xây dựng và áp dụng hình thức tổ chức dạy học mới gọi là hệ "lóp - bài", trong đó, HS được chia theo đơn vị lớp có trình độ, lứa tuổi và tâm sinh lý tương đồng.
Nhà giáo dục danh tiếng người Nga K.Usinxki (1824 - 1870) cũng đã thực hiện nhiều nghiên cứu về tính chất và mục tiêu của giáo dục trường học, tiến hành nhiều cải cách và áp dụng các biện pháp mới trong giảng dạy. Ông cho rằng một người GV muốn có một bài giảng thành công thì cần phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý và trí lực của HS, đế từ đó xây dựng nội dung giảng dạy phù họp với các đối tượng học, bám sát vào nguyên tắc trực quan trong dạy học. John Dewey (1859-1952), một nhà giáo dục người Mỹ đã đóng góp vào công việc hình thành quan niệm về mối quan hệ giữa trường học và xã hội. Từ ngày 2/9/1945 khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay, nền giáo dục mới luôn bám sát 3 nguyên tắc : dân tộc, khoa học, đại chúng trong quá trình tiến hành với mục tiêu cao cả là: "Tôn trọng nhân phấm, rèn luyện chí khí, phát triến tài năng”, tăng cường ý thức về tinh thần khoa học, học tập và giảng dạy bằng tiếng Việt từ cấp trường phổ thông cho đến đại học.
Ó cấp vĩ mô, tác giả Nguyễn Hữu Châu đã đề xuất các hình thức chủ yếu sau [3]: 11 Thứ nhất, phân ban: Đặc điểm của hình thức này là mồi trường tổ chức dạy học theo một số ban đã được quy định trên phạm vi toàn quốc và được phân chia vào học các ban khác nhau tùy theo năng lực, húng thú và nhu cầu. Phân hóa bằng hình thức phân ban có những ưu điểm về mặt quàn lý, bao gồm quản lý nội dung dạy học, tổ chức lớp học, tuyển chọn HS và đánh giá kết quà thi cử. Tuy nhiên, phân ban cũng gặp nhược điểm là thiếu linh hoạt và khó đáp ứng được sự đa dạng về năng lực, sự hứng thú và nhu cầu của từng đối tượng khác nhau. Thứ hai, dạy học tự chọn: các môn học và giáo trình được chia thành 2 nhóm bắt buộc hoặc tự chọn.
Điều này giúp tạo nên một chương trình cốt lõi, bao gồm các môn học và giáo trình bắt buộc, phục vụ cho tất cả các HS. Đồng thời, cũng có nhóm môn học đi đến giáo trình tự chọn, nhắm đáp ứng sự đặc biệt về năng lực, ngẫu thú đi đến nhu cầu học tập của các đối tượng HS khác nhau.