đặt vấn đề, nêu cách giải quyết, học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sau đó giáo viên kiểm tra, đánh giá. - Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý cách giải quyết, học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sau đó giáo viên cùng học sinh kiểm tra, đánh giá. - Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề, học sinh phát hiện và xác định vấn đề, tự đề xuất các giả thuyết và lùa chọn giải pháp. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.
- Mức 4: Học sinh tự phát hiện tình huống có vấn đề, lùa chọn vấn đề, giải quyết vấn đề, đánh giá chất lượng, hiệu quả, giáo viên bổ sung ý kiến. Hiện nay nhiều giáo viên đã vận dụng phương pháp này ở mức 1 và 2, cần vận dụng hiệu quả mức 3 và 4 hơn. [4] Sử dụng hiệu quả phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề, học sinh không chỉ nắm được tri thức mới mà còn nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy và cao hơn nữa là được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh. Phương pháp dạy học hợp tác trong nhúm nhỏ: Nh ở phần trên đã đề cập đến, phương pháp dạy học hợp tác là một phương pháp tiêu biểu cho đặc trưng thứ ba của phương pháp dạy học tích cực, trong đó kiểu nhóm được sử dụng phổ biến trong dạy học trờn lớp là nhóm từ 4-6 người.
Đây là một phương pháp mới đối với đa số giáo viên, hiện nay việc sử dông còn chưa nhiều, thường được sử dông trong cỏc lớp tập huấn mà học viên đến từ nhiều nguồn, có thể bổ sung kiến thức cho nhau, hay trong các dự án. Trong các trường phổ thông, nó được sử dụng như một phương pháp trung gian giữa làm việc độc lập từng cá nhân với Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị Hiên làm việc chung cả líp. Ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện kĩ năng hợp tác cho các thành viên trong học tập và lao động sau này. Hiện nay, năng lực hợp tác đã, đang và sẽ trở thành mục tiêu giáo dục mà các nhà trường cần trang bị cho học sinh.
Phương pháp dạy học hợp tác không chỉ nâng cao chất lượng dạy và học mà cũn giỳp hình thành và phát triển các kỹ năng cần thiết cho quá trình lao động, làm việc sau này. Vì vậy cũng giống như phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học hợp tác không chỉ có ý nghĩa đổi mới phương pháp mà còn đạt mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con người thích ứng với sự phát triển của xã hội. Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ: I.Một số khái niệm: [ 4, 1, 3 ] a. Nhóm là tập hợp những cá thể từ hai người trở lên theo những nguyên tắc nhất định, có tác động lẫn nhau để cùng thực hiện một nhiệm vụ trong một thời gian xác định.
Nhóm học tập được lập ra với mục đích đã được xác định rõ ràng, chung cho cả nhóm, đó là việc học tập đạt kết quả cao hơn và hứng thó hơn khi học riêng lẻ. Nhóm học tập có những đặc trưng sau: - Là một đơn vị, một bộ phận của tập thể líp học. - Hoạt động của nhóm được thống nhất với nhau bởi các thành viên cùng thực hiện một nhiệm vụ học tập, đây vừa là nguyên nhân vừa là điều kiện của nhóm học tập. - Các thành viên trong nhóm không chỉ liên kết với nhau về mặt trách nhiệm mà cũn cú mối quan hệ về tình cảm, đạo đức, lối sống.
Nh vậy nhóm học tập cũng là nơi diễn ra quá trình xã hội, không chỉ đơn thuần là một đơn vị cấu thành nờn lớp học mà còn là môi trường thuận lợi cho sự phát triển và hình thành nhân cách cho học sinh. Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị Hiên c. Phương pháp dạy học hợp tác: Dạy học hợp tác được hiểu là phương pháp dạy học mà trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên làm việc phối hợp cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn thành mục đích chung của nhúm đó được đặt ra. Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ là một trong những phương pháp dạy học tích cực mang lại hiệu quả cao và đã được sử dụng rất nhiều trong dạy học ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phương tây.
Ở Việt Nam, hiện nay, theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, đây là một trong ba phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở phổ thông. Trong phương pháp dạy học hợp tác, líp học được chia thành cỏc nhúm nhỏ, tuỳ mục đích yêu cầu của vấn đề học tập, cỏc nhúm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định, cố định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau. Qỳa trỡnh học tập nhóm có thể tóm tắt như sau: sau khi giáo viên phân nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm, học sinh được tự do quan sát, thảo luận và ghi chép lại. Trong khi các nhóm làm việc, giáo viên tuỳ theo sự phát triển của học sinh có thể hướng dẫn hay chỉ ra một số lỗi lầm để các em tự sửa chữa.
Sau khi thảo luận, cỏc nhúm sẽ trình bày kết quả thảo luận, giáo viên ghi nhận, sửa chữa và tổng kết, học sinh ghi kết quả cuối cùng - đó là kiến thức cần lĩnh hội. Nh vậy, trong phương pháp dạy học hợp tác, hoạt động chính là hoạt động của học sinh, học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, theo dõi và định hướng. Chính vì thế, dạy học hợp tác được xem là một trong những phương pháp có vai trò chủ yếu nhằm phát huy cao độ tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Cơ sở để tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ: [4,1,11] Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị Hiên a.
Cơ sở về mặt tõm lớ: Mô hình tõm lớ trong quá trình học tập: §éng c¬ - Nhu cÇu Høng thó Tù gi¸c S¸ng t¹o §éc lËp TÝch cùc Động cơ đúng sẽ tạo ra hứng thó. Hứng thó là tiền đề của tự giác. Hứng thó và tự giác là hai yếu tố tõm lớ tạo nên tính tích cực, tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập, suy nghĩ độc lập là mầm mèng của sự sáng tạo. Ngược lại, phong cách học tập tích cực sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thó, bồi dưỡng động cơ học tập.
Như vậy, để đạt được sự tự giác, tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập thì phải đảm bảo ba yếu tố quan trọng khởi đầu trong quá trình học là: nhu cầu, động cơ và hứng thó. Dạy học hợp tác nhóm là phương pháp dạy học phù hợp với cả ba yếu tố đó của người học: - Nhu cầu học tập thông qua hoạt động nhóm: Nhu cầu là đòi hỏi của con người muốn có những điều kiện nhất định để phát triển. Nhu cầu nảy sinh do kết quả tác động qua lại giữa 2 yếu tè: môi trường bên ngoài và trạng thái bên trong của từng chủ thể. Tạp chí giáo dục số 12- năm 1986 đó nờu: “ Động lực của quá trình dạy học chính là giải quyết những mâu thuẫn bên trong của người học.
Không Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị Hiên ai có thể thay thế họ khi họ không có nhu cầu, không cố gắng vươn lên bằng sức lực và trí tuệ của bản thân mỡnh.” Như vậy, điều quan trọng trong dạy học là phải lùa chọn phương pháp dạy học phù hợp có thể vừa làm xuất hiện ở người học nhu cầu nhận thức đồng thời vừa đáp ứng được những nhu cầu đó. Theo tiêu chí đó, phương pháp dạy học hợp tác đã tạo ra một môi trường xã hội thu nhỏ, vì vậy ngoài nhu cầu chiếm lĩnh tri thức, phương pháp này còn góp phần làm xuất hiện và đáp ứng được các nhu cầu khác như: nhu cầu giao lưu, nhu cầu tự khẳng định mỡnh,…. - Động cơ và quá trình hình thành động cơ thông qua hoạt động nhóm: Để xuất hiện nhu cầu, cá nhân phải trải qua quá trình hình thành động cơ, nhu cầu là cơ sở của sự hình thành động cơ. Vậy nhu cầu và động cơ khác nhau như thế nào? “ Nhu cầu là sự đòi hỏi cụ thể một cái gì đó, còn động cơ là sự lập luận việc giải quyết thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu đã chỉ ra trong môi trường chủ quan, khách quan nào đú.” Sự phát triển trí tuệ, giáo dục là một trong những điều kiện quan trọng nhất để hình thành động cơ.
Trong quá trình hoạt động hợp tác, động cơ của người học được hình thành và phát triển một cách tự giác. Có thể núi nhúm là một phần của môi trường xã hội thu nhỏ với những tương tác học sinh với học sinh, học sinh với tri thức và học sinh với giáo viên, trong đó tương tác học sinh với học sinh được chú trọng hơn so với các phương pháp khỏc, chớnh điều này giúp cho việc thảo luận đạt hiệu quả cao hơn. Do đó, nhóm là môi trường học tập, môi trường giao lưu tốt vừa tạo điều kiện đáp ứng những nhu cầu của người học, vừa thúc đẩy quá trình hình thành động cơ học diễn ra tích cực, tự giác. - Hứng thó nhận thức thông qua hoạt động nhóm: Hứng thó nhận thức chính là hứng thó học tập, hứng thó đối với việc tìm hiểu khoa học, nó có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân người học.
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị Hiên Hứng thó nhận thức được xuất phát từ động cơ, và nhu cầu của quá trình nhận thức, được duy trì trong suốt quá trình nhận thức không chỉ bởi nội dung mà còn bởi phương pháp nhận thức. Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải luôn biết linh hoạt lùa chọn phương pháp dạy học phù hợp để tạo được và duy trì hứng thó cho học sinh. Phương pháp dạy học hợp tác góp phần tăng cường hoạt động của học sinh, tạo bầu không khí thoải mái để người học tích cực, tự giác chiếm lĩnh nội dung khoa học.