Chương I. Một số vấn đề lý luận về CNH, HĐH trong thương mại và vai trò của nó đối với nền kinh tế quốc dân. Chương II. Đánh giá tình hình thực hiện CNH, HĐH trong thương mại thời gian qua.
Một số giải pháp chủ yếu nhằm CNH, HĐH trong thương mại thời kỳ tới 2010. Ban chủ nhiệm đề tài hy vọng rằng nội dung, phương thức tiến hành v. mô hình CNH, HĐH thương mại được đề cập trong đề tài sẽ đóng góp quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn phát triển của ngành Thương mại nói riêng và phát triển kinh tế nói chung, đồng thời đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Với những kết quả nghiên cứu được trình bày trong đề tài chắc chắn còn nhiều chỗ còn phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện thêm.
Ban chủ nhiệm đề tài sẵn sàng tiếp thu những ý kiến đóng góp của các đồng chí trong Hội đồng nghiệm thu cấp bộ, tiến hành sửa chữa và hoàn chỉnh về mặt nội dung cũng như hình thức trình bày để đề tài có giá trị cao hơn. Xin chan thanh cam on! Ban chủ nhiệm để tài CHYONG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG THUONG MAI VA VAI TRO CUA NO ĐỐI VỚI NEN KINH TE QUOC DAN. L KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA. Khái niệm CNH, HDH Công nghiệp hoá (Industrialization) được nhiều nhà kinh tế học cho rằng đó là một cách thức nhiều triển vọng nhất cho sự phát triển đối với một nước.
Chính phủ của nhiều nước phát triển đã coi nhận định này là đúng và đã đề ra các chiến lược kế hoạch ưu tiên phát triển công nghiệp. Quan điểm thay thế nhập khẩu được hầu hết các nước thực hiện nhưng cũng có một số nước thi hành “khuyến khích xuất khẩu”. Đại bộ phận các nước đều áp dụng chính sách kết hợp. (Từ điển kinh tế học hiện đại David W.Pearce- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2002) Nước ta đã kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút ra những kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hóa và bổ sung cho thực tiễn công nghiệp hóa ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động mội cách phổ biến.
Sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - cóng nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Hiện đại hoá là việc ấp dụng kỹ thuật nghiệp vụ tiên tiến, hiện đại để sản xuất, quản lý và điều hành mọi mặt hoạt động kinh tế — xã hội Khái niệm công nghiệp hóa nêu trên được Đảng ta xác định rộng hơn so với những quan niệm trước đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao. Như vậy, công nghiệp hóa theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ của lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây. Hiện nay trên thế giới, công nghiệp hoá được coi là phương hướng chủ đạo, là con đường tất yếu phải trải qua của các nước đang phát triển.
Tư tưởng cơ bản đó đã được thể hiện trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở lý luận vững chấc cho những đổi mới đất nước và tư tưởng này cũng được Đảng ta vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam. Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại có khả năng tạo ra năng suất lao động xã hội cao hơn trước. Đối với nước ta CNH, HĐH là quá trình mang tính khách quan và trở thành một đồi hỏi bức xúc trong giai đoạn hiện nay. Bởi lẽ, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu phấn đấu đạt mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, đân chủ, văn minh”.
Chúng ta chỉ có con đường là thực hiện CNH, HĐH. Thực tiễn đổi mới kinh tế 17 năm qua càng khẳng định con đường Đảng ta đã chọn là đúng đấn. Con đường CNH, HĐH ở nước ta được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội X của Đảng là: “Cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt”. Tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
Muc tiéu cia CNH, HDH Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp công nghiệp hoá nước ta đã được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIH là “X4y đựng nước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sẵn xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sẵn xuất, đời sống vậi chất và tỉnh thân cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội cóng bằng văn mình". Văn kiện Đại hội còn chỉ rõ chúng ta phải ra sức phấn đấu để đến năm 2020 về cơ bản, nước ta trở thành nước công nghiệp. Đảng ta xác định nước công nghiệp cần được hiểu là một nước có nền kinh tế mà trong đó lao động công nghiệp trở thành phổ biến trong các ngành và các lĩnh vực của nên kinh tế. Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế cả về GDP, cả về lực lượng lao động đều chiếm tỷ lệ cao hơn so với nông nghiệp.
Thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, công nghiệp hóa cần phải thực hiện được những mục tiêu cụ thể nhất định. Những năm trước mất với khả năng về vốn, nhu cầu về công ăn việc làm, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tình hình kinh tế xã hội chưa phát triển, chúng ta cần tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, ra sức phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản. tạo ra nhiều hàng hoá nông sản. Nội dung cơ bản của CNH, HĐH CNH, HĐH là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động Sử dụng máy móc, tức là phải cơ khí hóa nền kinh tế quốc dân.
Đó là bước chuyển 4 đổi rất căn bản từ nên kinh tế nông nghiệp sang nên kinh tế công nghiệp. Đi liên với cơ khí hóa là điện khí bóa và tự động hóa sản xuất từng bước và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. CNH, HĐH dòi hỏi phải xây dựng và phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, trong đó then chốt là ngành chế tạo tư liệu sản xuất. Sở dĩ như vậy vì theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin thì "Tái mở rộng của khu vực sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu sản xuất quyết định qui mô của tái sản xuất mở rộng".
Sự phát triển của các ngành chế tạo tư liệu sản xuất là cơ sở, là "đòn xeo" dé cải tạo, phát triển nền kinh tế quốc dân. Qua phân tích trên cho ta thấy, đối tượng CNH, HĐH là tất cả các ngành kinh tế quốc dân, nhưng trước hết và quan trọng nhất là ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất. Đồng thời mục tiêu của CNH, HPĐH còn là sử dụng kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên tiến và hiện dai nhằm đạt năng suất lao động xã hội cao. Tất cả những điều đó chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở một nền khoa học - công nghệ phát triển đến một trình độ nhất định.
Nội dung cụ thể của CNH, HĐH thể hiện: 3.1 CNH, HĐH là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Lịch sử công nghiệp hoá trên thế giới cho thấy công nghiệp hoá gắn liên với các cuộc cách mạng về kỹ thuật và công nghệ. Công nghiệp hoá đòi hỏi phải trang bị và trang bị lại công nghệ cho các ngành kinh tế gắn liển với quá trình hiện đại hoá ở cả phần cứng lẫn phần mềm của công nghệ. Cách thức tiến hành ở những nước khác nhau, không giống nhau.
Có nước tiến hành công nghiệp hoá bằng cách tự nghiên cứu, tự sáng chế, tự trang bị công nghệ mới cho các ngành kinh tế trong nước, lại có nước tiến hành thông qua chuyển giao công nghệ. Một số nước khác lại tiến hành kết hợp giữa tự nghiên cứu và chuyển giao. Thực chất của chuyển giao công nghệ là đưa công nghệ từ nước này sane nước khác, làm thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao nhằm rút ngắn quá trình hiện đại hoá công nghệ và do vậy có thể đẩy nhanh tốc độ, nâng cao năng lực sản xuất, khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực nhằm đạt được tăng trưởng kinh tế.2 CNH, HĐH làm thay đổi hoạt động của các ngành kinh tế và các lĩnh vực hoạt động xã hội Nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế thống nhất các ngành, các lĩnh vực hoạt động có quan hệ biện chứng với nhau. Sự thay đổi ở ngành kinh tế này, ở lĩnh vực hoạt động này sẽ kéo theo hoặc đòi hỏi sự thay đổi thích ứng ở các ngành, và các lĩnh vực hoạt động khác và ngược lại, vì thế quá trình CNH, HĐH cũng gắn liên với qúa trình phân công lại lao động xã hội cho phù hợp với quy luật kinh tế.
Tỷ trọng và số người lao động trong công nghiệp tăng lên sẽ làm cho tỷ trọng và số 5 người lao động trong nông nghiệp giảm đi. Tỷ trọng và số người lao động có trí tuệ càng cao sẽ làm cho số người và lao động giản đơn giảm đi, CNH sẽ dẫn đến kết quả là các ngành phi sản xuất vật chất sẽ tăng nhanh hơn tốc độ lao động trong các ngành sản xuất giản đơn khác.