Chương 1: Luận cứ khoa học của việc phát triển công nghiệp mía đường Chương 2 : Phân tích thực trạng phát triển công nghiệp mía đường Khánh Hòa trong những năm qua. Chương 3 : Phương hương và biện pháp chủ yếu phát triển công nghiệp mía đường Khánh Hòa trong những năm tới. Q h It o i l ụ 1 LUẬN CỨ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIÊP MÍA ĐƯỜNG 4 1. VAI TRÒ VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIEN c ủ a c ô n g n g h iệ p m ía đ ư ờ n g n ư ớ c t a 1.
Vai trò của công nghiệp mía đường trong nền kinh tê nưức ta [11,12] Đường là một trong các thực phẩm cần thiết cho đời sống con người , mức tiêu thụ đường cho một người dân tăng dần theo thu nhập và được tiêu thụ phần lớn qua các hàng thực phẩm công nghệ mà đường chiếm tỉ trọng lổn như bánh, kẹo nước giải khát các loại và đặc biệt là các nước Châu Á dùng nhiều đường để làm gia vị trong các món ăn hằng ngày, ở Việt Nam chúng ta thì người miền Nam rất ưa dùng đường bong nấu ăn. Nhu cầu về đường ngày càng tăng nhưng sản xuất chưa đáp ứng đủ. Hiện nay, cả nước sản xuất được 480 ngàn tấn (năm 1996 ) dự báo năm 1997 là 520 ngàn tấn. Để cân đối với nhu cầu hằng năm chúng ta vẫn phải nhập đường.
Có những năm rất cao như năm 1995 Bộ Thương mại cho phép hạn ngạch nhập khẩu 250 ngàn tấn. Tuy nhiên theo các nguồn tin từ các công ty chuyên doanh thì sô' lượng đường về tới Việt Nam hơn 350 ngàn tấn. Theo dự báo của FAO bong thập kỷ 90 mức tiêu thụ đường của thế giới sẽ tăng 1,76 % năm , trong đó ở các nước phát biển tăng là 2,7 % năm. Mức tiêu thụ đường bình quân của các nước Châu Âu là 41,5 kg/ng/năm, Bắc và Trung Mỹ 45, 9kg.
Đặc biệt là Cu Ba 71,7 kg, Nam Mỹ 37,5 kg , Châu Á 12 kg, Châu Đại dương 43,8 kg, Châu Phi 14,1 kg [11] Qua số liệu bên cho ta thấy: Các quốc gia chậm phát biển bên thế giới có mức tiêu thụ đường dưới 10 kg/ng/ năm, mức bung bình chung cho các nước phát biển là 35 kg/ng/năm, mức trung bình chung thế giới là 20,3 kg/người/năm. Vai bò của công nghiệp mía đường bong nền kinh tế nước ta biểu hiện ở một số mặt sau - Phát triển công nghiệp mía đường góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Việc trồng mía có thể thích hợp vơi các loại đất như đồi, đát ít được tươi nhưng hiệu quả cao. Do vậy phát triển công nghiệp mía đường góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng làm nâng cao dời sông của nông dân trồng mía.
5 - Phát triển công nghiệp mía đường đã giải quyêt một lực lượng lao động đáng kể. Sản xuất đường là một trong những ngành chế biến nông sản thu hút nhiều lao động và được xem là một trong những ngành được ưu tiên phát triển ỏ các nưđc đang phát triển. Hoạt động của nhà máy đường sẽ thúc đẩy sự phát triển của vùng nông thôn trồng mía, các dịch vụ vận tải nguyên liệu, cung câp vật tư, tiêu thụ đường và nhất là công việc cho người nông dân hồng mía, chăm sóc và thu hoạch, tạo điều kiện cho người dân có việc làm ổn định , tăng thu nhập và là động lực cho người nông dân chuyển đổi sản xuất nhỏ sang sản xuất hàng hóa. Phát triển công nghiệp mía đường đã giải quyết một lượng lđn lao động công nghiệp và nông nghiệp.
- Sản xuất đường là ngành sản xuất mang lại hiệu quả tương đôì cao không những về mặt kinh tế mà còn cả xã hội, phát hiển ngành công nghiệp mía đường góp phần tăng thu nhập cho đất nước và tiết kiệm được một lượng lớn ngoại tệ do phải nhập khẩu đường, đồng thời với nó là thực hiện công nghiệp hoá nông thôn .2 Tình hình phát triển công nghiệp mía đường ở Việt Nam trong thòi gian qua Khi thống nhất đất nưđc, cả nước ta có 9 nhà máy hoạt động vđi tổng công suâl là 6.550 tấn mía /ngày và 350 tân đường tinh luyện, trong đó ở miền Bắc có 3 nhà máy với công suất 1.700 tấn mía /ngày, còn lại đều tập trung ở miền Nam. Đến năm 1984 cả nưđc đưa vào hoạt động thêm 2 nhà máy : Lam Sơn (Thanh Hóa), La Ngà (Đồng Nai) từ nguồn viện trợ của nước ngoài vđi thiết bị của Pháp và Đan mạch. Ngoài ra, còn tự sản xuất 2 nhà máy có công suất 500 tấn mía /ngày theo mẫu của Trung Quốc phân bổ cho 2 tỉnh Phú khánh và Nam Hà. Tại Phú Khánh lắp đặt dở dang ở Đồng Bò (Phú Yên) và đã thanh lý vào năm 1993.
Năm 1993 là năm trong nước rất khan hiếm đường, nhiều địa phương đã mạnh dạn đầu tư các nhà máy cỡ nhỏ :10 nhà máy phân bổ ở các tỉnh Nghệ Tĩnh (1); Bình Trị Thiên (1); Phú Khánh (4); Đồng Nai (1); Tây Ninh (1); Vĩnh Long 6 (1); Minh Hải (1) .Trong 10 nhà máy đó đến nay chỉ còn 4 nhà máy là hoạt động do công nghệ và thiết bị không đạt yêu cầu, sản xuất bị lỗ phải đóns cửa và thanh lý. Bên cạnh đó Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đã cho xây dựng mđi lại nhà máy đường Tuy Hòa vđi công suất 1. Ở Khánh Hòa tỉnh đã thanh lý nhà máy đường Ninh Hòa cũ và xây dựng lại nhà máy đường Ninh Hòa mới với công suất 1. Tổng công suất hiện nay của 16 nhà máy đang hoạt động là 16.750 tấn mía /ngày và 2 nhà máy đường tinh luyện.
Các nhà máy ở Việt Nam phân bổ chủ yếu là ở miền Nam(10 nhà máy). Bên cạnh các nhà máy đang hoạt động hiện nay, có 27 nhà máy đang xây dựng trong đó có 4 nhà máy liên doanh với nước ngoài và 1 nhà máy 100% vốn của An Độ, nâng tổng công suất lên 66. Các nhà máy được xây dựng, trước đây do Trung ương quản lý có công suất từ 1.000 tấn mía /ngày, là những nhà máy tương đối lớn ở Việt Nam, nhưng nếu so với thế giđi thì nhỏ, trang thiết bị vào loại lạc hậu. Các nhà máy do địa phương quản lý nhìn chung công suất còn thầp hơn nhiều, hiệu quả sản xuất không cao.
Tinh hình trên được phản ánh trên bảng 1 Ngoài ra khi chương trình mía đường được khuyến khích nhiều dự án xây dựng nhà máy đường đã được duyệt và dự kiến đi vào hoạt động từ nay đến năm 2005 là 31 dự án vđi tổng công suất từ 61. Đôi với khu vực ngoài quốc doanh hiện nay cả nước có khoảng trên dưới 6.000 cơ sở sản xuất thủ công vđi công suất từ 5 - 50 tân mía /ngày /cơ sở. Ở miền Bắc có khoảng 200 cơ sở tập hung ở các tỉnh miền núi và hung du miền Nam là chủ yêu tập trung ở các tỉnh trọng điểm mía như : Quảng Ngãi Khánh Hòa, Phú Yên, Sông bé, Bến Tre.Các cơ sở đường thủ công hiện đang chế biến hơn Vi sản lượng mía hàng hóa, hiệu suất thu hồi thấp thường chỉ từ 14 - 16 tấn mía/ltấn đường. 7 Bảng 1 : Tình hình hoạt động của các nhà máy đường ở Việt Nam STT Tên nhà máy Năm hoạt Công suA't sả n lượng Công suất S.L dường động Tấn/ngày mía cp (Tẩn) huy dộng (T ấ n ) 1 Diên Khánh 1991 400 40.400 7 Nam Hà 1980 350 0 0 0 8 Van Điểm 1961 1.
110 Nguồn : Báo cáo kết quả kiểm điểm chương trình mía đường toàn quốc tháng 4/1996 Đ ể sản xuất đường mía chúng ta phải sử dụng một sô" vật liệu như : mía cây, vải lọc, vôi, lưu huỳnh. nhưng ở đây chúng ta chỉ xem xét đến nguyên liệu chính để sản xuất là mía đường .Trên thế giới để làm đường thì có nhiều loại nguyên liệu như : củ cải đường (ở các nước ôn đđi), mía đường (ở các nước nhiệt đới), thôt nốt (Camphuchia), ngô. ở Việt Nam mía là nguyên liệu duy nhất dùng để sản xuất đường và nó là sản phẩm không thể thay thê" được .Tình hình sản xuâ"t đường mía ở Việt Nam trong thời gian qua được biểu diễn qua bảng 2. Qua sô" liệu trên chúng ta thấy diện tích mía cả nước từ năm 1930 đến nay lăng 6 lần , tô"c độ tăng nhanh từ năm 1980 trở lại đây ,nhưng chủ yếu nhất vẫn là từ năm 1994 đến nay.
Năng suất tăng hơn hai lần so với năm 1930, sản lượng lại tăng hơn 12 lần chủ yếu là do diện tích tăng. Diện tích mía của chúng 8 ta phân bô' không đều ở các vùng, chủ yếu ở các tỉnh Duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long như : Tây Ninh (17,7 ha), Long An ,(15,9 ha), Bến Tre (14,6 ha), Khánh Hòa (11,7 ha ), Quảng Ngãi (10,7 ha) .Khánh Hòa là tỉnh đúng thứ tư về diện tích mía hong cả nước .[18] Sản xuất mía ở Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể và có khả năng tự túc đường trong tương lai gần. Những thành tựu đó một phần quan trọng là từ phía Nhà nưđc và sự cô' gắng vươn lên tự khẳng định mình , bên cạnh đó là sự tiếp thu công nghệ mới trong sản xuâ't mía trên thế giới (4hóa trong nghề trồng mía bao gồm : giông tốt hóa, hóa học hóa, cơ giới hóa, thủy lợi hóa). Bảng 2 : Tình hình sản xuất mía đường ở Việt Nam trong 65 năm Năm Diện tích (l.OOOha) Năng suâ't (tấn/ha) Sản lượng mía cây(lOOOtân) 1930 36,0 21,5 720,2 1940 38,0 21,6 820,4 1955 33,8 25,3 859,7 1960 33,6 43,3 1.500,0 Nguồn : N iên giám thống kê Việt Nam 1995 v ề giống m ía : Từ thời Pháp ta đã nhập nhiều giông mía lai của Indonesia (POJ ), A'n Độ (CO).
Từ sau năm 1955 ở miền Bắc nhập nội các giông của Đài Loan, Trung Quốc, Cu Ba. Các giông trồng phổ biến trong thập kỷ 60 là POJ28- 9 78 POJ 30-16, CO290, CO Phú Thọ, NCO310. Từ năm 1970 đến nay các giống F134 MY54-14, F156, thay thế cơ bản các giống cũ. Ở miền Nam các giông mía lai nhập nội cũng chiếm tỷ lệ cao trong sản xuất như NCO 310 ở miền Trung, C 0715, COMUS, F146 ở Đông Nam Bộ , C 0715, H39-3633 ở vùng Hiệp Hòa , Long An Tây Nam Bộ .