Chương 1: Dat vấn dé. Giới thiệu về sự cần thiết của công tác định mức tại xi ngiệp và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Nêu lên cơ sở lý luận làm nên tảng cho việc nghiên cứu ở chương 4, đồng thời đưa ra phương pháp, công thức và chỉ tiêu nghiên cứu.
Chương 3: Tổng quan Giới thiệu về Xí nghiệp Chế biến Thực phẩm Nam Phong Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày các kết quả nghiên cứu về mặt định mức lao động, định mức tién lương tại xí nghiệp. Chương 5 : Kết luận và kiến nghị Tổng kết lại những gì làm được đồng thời đưa ra những kiến nghị. NS NT ee ee “ số Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Định Mức Lao Động 2.1 Khái Niệm Định Mức Lao Động Là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vi san phẩm (hoặc để hoàn thành một khối lượng công việc) theo đúng tiêu chuẩn chất lượng trong những điều kiện kỹ thuật nhất định .2 Phan Loại Các Loại Định Mức Lao Động > Mức thời gian Là lượng thời gian hao phí được quy định cho một hay một nhóm người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp, để hoàn thành một đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lượng công việc) theo đúng tiêu chuẩn chất lượng trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định. Đơn vị đo mức thời gian là giây, phút, giờ trên đơn vị sản phẩm.
Người lao động làm quá lượng thời gian đã quy định trước này thì không hoàn thành định mức lao động, ngược lại là vượt mức lao động. > Mức sản lượng Là số lượng đơn vị sản phẩm (hoặc khối lượng công việc) quy định cho một hay một nhóm người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp phải hoàn thành trong một đơn vị thời gian, theo đúng tiêu chuẩn chất lượng trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định. Đơn vị đo mức sản lượng là số lượng sản phẩm/đơn vị thời gian. (Sp/giờ,ca; m*, m”/giờ) Người lao động làm được nhiều hơn số lượng đơn vị sản phẩm quy định thì hoàn thành vượt mức lao động.
Như vậy, mức sản lượng và mức thời gian là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau. > Mức biên chế Mức biên chế (hay còn được gọi là mức định biên) là số người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp được quy định chặt chẽ để thực hiện một khối lượng công việc cụ thể, trong những điểu kiện kỹ thuật nhất định. Đơn vị đo của mức biên chế là người trên công việc (người/bộ máy, cơ quan, bộ phận). Mức này được áp dụng trong điều kiện công việc đòi hỏi hoạt động phối hợp của nhiễu người, mà kết qua không tách riêng được cho từng người hay không thể xác định được mức thời gian, mức sản lượng.3 Những Quy Định Về Thời Gian Làm Việc * Quy định của bộ luật lao động về thời gian làm việc Theo điều 68 của Bộ luật Lao động Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định về thời gian làm việc của công nhân lao động như sau: Thời gian làm việc mỗi ngày là 8 giờ, tuy nhiên nếu thời gian làm việc diễn ra chủ yếu trong diéu kiện nặng nhọc, nguy hiểm, độc hai thì được rút ngắn từ 1-2 giờ, theo danh mục do Bộ Lao động — Thương bình Xã hội và Bộ Y tế ban hành.
Cũng theo điều 68 thì thời gian được tính vào thời giờ làm việc có hưởng lươn bao gồm: g e Thời gian nghỉ giữa ca. e Thời gian nghỉ theo tính chất công việc. e Thời gian nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính vào trong định mức lao động cho nhu. cầu sinh lý tự nhiên của con người.
e Thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động (kết thúc thời gian làm việc do hết việc sớm). Cũng theo diéu 71 thì thời gian làm việc ban đêm sẽ kéo dài từ 22 giờ tới 6 giờ sáng ngày hôm sau, thời gian nghỉ giải lao trong quá trình làm việc là 30 phút. Đối với lao động có tính chất nặng nhọc thì thời gian nghỉ giải lao trên có thể được kéo dài đến 45 phút. * Quy Dinh Của Xí Nghiệp Về Thời Gian Làm Việc Dựa trên quy định của luật lao động của nhà nước và môi trường lao động thực tế tại Xí nghiệp Chế biến Thực phẩm Nam Phong thì ban giám đốc đã có quy định về thời gian làm việc của tổ giết mổ và tổ pha lóc như sau: e Thời gian làm việc trong ngày là 6 giờ.
e Thời gian nghỉ giải lao để phục hồi sức khỏe là 30 phút. e Thời gian bắt đầu quá trình làm việc là 0 giờ đối với tổ giết mổ, thời gian kết thúc công việc là 6 giờ. e Thời gian làm việc ở tổ pha lóc bắt đầu sau tổ giết mổ khoảng từ 30 - 45 phút khi tổ giết mổ đã có sản phẩm và chuyển sang cho tổ pha lóc. Thời gian kết thúc công việc ở tổ giết mổ là 6 giờ 30 phút hay 6 giờ 45 phút tùy theo thời gian bắt đầu.4 Phân Loại Thời Gian Ca Làm Việc Trong quá trình làm việc người ta chia thời gian tiêu hao làm hai phan.
* Phân thời gian tiêu hao được định mức Là thời gian tiêu hao có ích để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tam = Tea + Tin + Tp + Tpụ + Tp: + Tạn Trong đó: e Thời gian chuẩn kết (Ta): Là thời gian chuẩn bị trước lúc làm việc và dọn vệ sinh sau khi lầm xong công việc. e Thời gian làm tác nghiệp (Tạ): Là thời gian mà người lao động tác động vào đối tượng lao động và tư liệu sản xuất, làm cho đối tượng đó biến đổi về hình dáng, tính chất theo yêu cầu kỹ thuật sản xuất. Thời gian làm việc chính có thể bao gồm nhiều thao tác và mỗi thao tác có thể bao gồm nhiều cử động.
e Thời gian làm việc phụ (T,): Là thời gian phục vụ bảo đảm cho việc chính. e Thời gian phụ nơi làm việc, bao gồm: Thời gian phục vụ có tinh chất kỹ thuật (Ty). Thời gian phục vụ có tính chất tổ chức (Ty) (thời gian sửa chữa nhỏ, xắp xếp nơi làm việc, chuẩn bị dé nghề. e Thời gian nghỉ ngơi cần thiết (Tạn): Là thời gian nghỉ ngơi theo chế độ đã quy định như nghỉ giữa giờ, đại tiểu tiện.
* Phần thời gian tiêu hao không được định mức Đây là thời gian tiêu hao không được tính vào phần thời gian định mức, phân thời gian này là thời gian lãng phí (có thể do kỹ thuật, tổ chức. hay có thể do người lao động không làm đúng nhiệm vụ được giao).2 Khoán Sản Phẩm 2.1 Khái Niệm Về Giao Khoán Sản Phẩm Khoán san phẩm là hình thức quan lý sản xuất gắn lién với việc tổ chức và phân công lao động, nhằm thực hiện nguyên tắc trả công theo lao động cho người lao động. Nó gắn chặt với nội dung tổ chức lại sản xuất và các mặt quản lý đơn vị sản xuất. Nếu nhìn từ góc độ biểu hiện thi đây chính là hình thức quan lý sắn xuất mà trong đó thù lao của người lao động được trả dựa trên trách nhiệm đối với số lượng và chất lượng sản phẩm do chính họ làm ra.
So với hình thức trả lương theo công nhật (trả lương theo ngày công lao động) thì hình thức khoán có nhiều ưu điểm nổi trội mà bất cứ một đơn vị sản xuất kinh doanh nào cũng đều muốn áp dụng.2 Các Hình Thức Giao Khoán Căn cứ vào hình thức trả thù lao lao động hiện nay đang được áp dụng thì ta có các hình thức khoán như sau: e Khoán việc Là hình thức khoán mà thù lao lao động được trả căn cứ vào công việc và đơn giá khoán. Tuy nhiên, phương pháp này cũng mang nhiều nhược điểm là không gắn chặt trực tiếp quyền lợi, trách nhiệm của đối tượng tham gia lao động với sản phẩm cuối cùng. Công tác kiểm tra nghiệm thu chất lượng rất phức tạp, bộ máy quan lý tương đối đông. Có thể nói ở đây hình thức khoán việc là hình thức quá độ để tìm ra hình thức khoán tiến bộ hơn.
e _ Khoán sản phẩm cuối cùng Khoán sản phẩm cuối cùng: Là việc trả thù lao lao động dựa vào việc hoàn thành sản phẩm cuối cùng và đơn giá khoán. Tính khoa học của hình thức này là gắn các bộ phận tham gia trong quá trình sản xuất với kết quả cuối cùng. Đây là hình thức khoán tích cực trong giai đoạn hiện nay, nó khắc phục được các nhược điểm của khoán việc, động viên mọi người tham gia lao động tích cực và đồng thời có trách nhiệm đối với sản phẩm của mình làm ra. Đây là hình thức khoán mà hiện nay Xí Nghiệp CBTP Nam Phong đang mong muốn đạt được với các chỉ tiêu về mức khoán cụ thể.3 Muc Dich Giao Khoán - Đảm bảo phát triển san xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cơ sở, lôi cuốn được mọi người hăng hái lao động, kích thích tăng năng suất lao động, sử dụng tốt tư liệu sản xuất và các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có.
- Không ngừng nâng cao thu nhập của người lao động. - Nâng cao tránh nhiệm của người lao động với những sản phẩm mà chính họ tạo ra.4 Yêu Cầu Của Công Tác Giao Khoán Sản Phẩm Với đặc thù của mình thì hình thức giao khoán tại xí nghiệp phải đảm bảo các nguyên tắc như sau: - _ Xí nghiệp phải có kế hoạch sản xuất cụ thể để có thể bố trí các nguồn lực hợp lý, đặc biệt ở đây là nguồn lực lao động, tránh tình trạng phải trả lương cho công nhân mà vai trò của người đó trong nhóm là không cần thiết. - Phải cung cấp đủ nguyên liệu và đảm bảo đầy đú các điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất, tránh tình trạng không đủ nguyên liệu và công nhân phải nghỉ làm trước thời gian quy định (xí nghiệp vẫn phải trả lương cho thời gian nghỉ của công nhân). Do vậy, đi cùng hoạt động của xưởng giết mổ phải là sự hoạt động nhịp nhàng của những người làm công tác Marketing (đặc biệt là về phía nguồn nguyên liệu, tiêu thụ) và đội ngũ cán bộ quản lý của xí nghiệp.3 Khai Quát Phương Pháp Chụp Anh Bấm Giờ Là phương pháp kết hợp giữa chụp ảnh, bấm giờ và nghiên cứu tình hình sử dụng thời gian làm việc trong quá trình lao động.