Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở lý thuyết; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Thực trạng và kết quả nghiên cứu; Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị. 13 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Trong chương 1, tác giả đã trình bày sự cần thiết phải thực hiện nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của cán bộ công nhân viên tại điện lực Bắc Tân Uyên, xuất phát từ mức độ phát triển của thị trường, bối cảnh và tình hình các nghiên cứu trước đó. Nội dung của chương 1 bao gồm: Lý do nghiên cứu đề tài, mục tiêu nghiên cứu và xác định đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của cán bộ công nhân viên điện lực Bắc Tân Uyên. Phạm vi nghiên cứu tại điện lực Bắc Tân Uyên.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng Ngoài ra, tác giả cũng đã chỉ ra những tính mới của đề tài so với những nghiên cứu trước, qua đó tác giả rất mong muốn sẽ đóng góp được những đề xuất hữu ích cho các doanh nghiệp điện lực Bắc Tân Uyên nói riêng cũng như là ngành điện lực Việt Nam nói chung. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2. Tổng quan về các vấn đề liên quan 2. Ngành điện lực 2.
Cơ sở lý thuyết về hệ thống điện Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Xuân Khu (2010) thì HTĐ là một hệ thống có thể thống nhất bao gồm rất nhiều phần từ các phần liên kết chặt chẽ với nhau, thông thường người ta đã phân tách các phần tử theo các chức năng chức năng khác nhau như các nhà máy phát điện, hệ thống truyền thông tải và hệ thống phân phối điện. Ngoài ra để phân phối nhịp nhàng giữa các khâu trong quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng cho khách hàng sử dụng cuối cùng, cũng như chỉ huy xử lý các tình huống sự cố, bất thường trên HTĐ , yêu cầu phải có đơn vị đảm nhận nhiệm vụ này, thường làm Trung tâm hoặc đơn vị Điều kiện chắc chắn. Cũng theo Vũ Xuân Khu (2010), nguồn điện là đơn vị chính trong dây truyền sản xuất điện, nhiệm vụ của các nhà máy là sản xuất điện để đáp ứng nhu cầu phụ tải HTĐ. Cơ cấu nguồn điện hiện nay rất đa dạng bao gồm nhiều chủng loại như các nhà máy thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện dầu, tuabin khí, điện nguyên tử, các nhà máy điện sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo.
Đặc điểm chung của các nhà máy điện rất đa dạng về hình thức sở hữu, như sở hữu nhà nước thường được giao cho các Tổng công ty hoặc Tập đoàn quản lý, sở hữu tư nhân như các nhà máy phát điện độc lập (IPP) , các nhà máy cổ phẩn có nhiều thành phần góp vốn (có cả các nhà đầu tư nước ngoài), các nhà máy BOT do các Công ty nước ngoài đầu tư dưới quyền lãnh đạo của các cơ quan sở tại. Mỗi loại nhà máy điện thông thường có công nghệ khác nhau, đặc điểm kỹ thuật vận hành khác nhau, các dạng hợp đồng mua bán điện khác nhau như vậy trong quá trình tái cấu trúc yêu cầu phải xem xét các yếu tố này. Phân tích đặc điểm của ngành điện Điện năng là một loại hàng hóa đặc biệt, toàn bộ chuỗi giá trị phải diễn ra đồng thời từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, không thông qua trung gian thương mại nào. Điện được sản xuất ra khi đã có đủ khả năng tiêu thụ vì đặc điểm của hệ thống điện là 15 ở bất kỳ thời điểm nào và cũng phải có sự cân bằng giữa công suất phát ra và công suất tiêu thụ.
Theo đó, chuỗi giá trị phát điện bao gồm 3 mắt xích chính: ● Vùng nguyên liệu: Vùng cung cấp dữ liệu tự nhiên để chạy máy phát điện. Các loại nhiên liệu hóa thạch như than đá, mỏ dầu, khí đốt,. thường không thể sử dụng ngay sau khi khai thác mà phải thông qua các quy trình chế biến, tinh chế, nghiêm ngặt xử lý, hạn chế tối đa khả năng gây ô nhiễm môi trường mới có thể tạo ra nguyên liệu thành phẩm để sử dụng cho các nhà máy điện. Ngược lại, các loại năng lượng tái tạo như thủy năng, gió, mặt trời.
có thể được đưa vào sử dụng ngay trong các nhà máy để tạo ra năng lượng. ● Sản xuất: Nguyên liệu được cung cấp cho các nhà máy điện lực như thủy điện, nhiệt điện,. ● Khu vực tiêu thụ: Khu vực có sự tham gia của các đơn vị sở hữu đường dây truyền tải điện, đường dây phân phối điện và bán lẻ điện cho người sử dụng. Có nhiều cách để sản xuất ra điện, nhưng ở Việt Nam hiện tại thì ngành điện than vẫn chiếm chủ yếu.
Biên lợi nhuận của các nhà máy nhiệt điện có sự liên hệ chặt chẽ với nguyên liệu đầu vào trong đó: Cơ cấu doanh thu: ● Doanh thu từ hoạt động sản xuất điện: chiếm 95% tổng doanh thu, chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi về giá cả và sản lượng ● Doanh thu từ hoạt động tài chính: Chiếm khoảng 2 - 3% tổng doanh thu, chủ yếu đến từ tiền gửi, mức chi trả cổ tức và các khoản hoàn nhập dự phòng của các thành viên công ty. Cơ cấu chi phí ● Chi phí sản xuất : Chi phí sản xuất chủ yếu là chi phí nguyên liệu (NVL) và chi phí khấu hao trong đó: ● Chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất (90%) trong cơ cấu chi phí NVL, ngoài ra còn có phụ gia là dầu FO và nước, hơn là nhập bằng xà lan từ các mỏ than Vàng Danh, Hòn Gai và Cẩm Phả , là các mỏ lớn nhất ở Việt Nam. Mỗi quý, Bộ Công thương định giá công bố định mức (chưa bao gồm phí tải vận tải), áp dụng cho 16 tất cả các nhà máy điện. Doanh nghiệp có vị trí lý tưởng gần mỏ hơn sẽ được hưởng mức giá cao hơn thuận lợi hơn.
● Chi phí khấu hao thường chiếm tỷ trọng 15 – 25% trong cơ cấu chi phí NVL, tuy nhiên chi phí này không còn khi hết thời gian khấu hao tài sản cố định, tuy là chi phí không bằng tiền nhưng vẫn được ghi vào cơ cấu chi phí, làm cho các DN điện hơn tiết kiệm được một phần thuế, tác động tích cực đến dòng tiền trong doanh nghiệp. ● Chi phí bảo dưỡng sử dụng 1 phần nhỏ nhưng biến động tùy thuộc vào mức bảo dưỡng (tiểu tu-đại tu) và lượng máy phát được bảo dưỡng hàng năm. Chi phí tài chính: DN điện chủ yếu vay nợ nước ngoài để đầu tư TSCĐ, nên biến động tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến chi phí tài chính. Theo đó, ngành điện than bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau: ● Biến đổi giá NVL đầu vào: Kéo theo sự biến đổi của giá điện.
● Thời tiết: Hiện tượng Elnino gây khô hạn và Lanina gây mưa nhiều (2 năm sẽ xuất hiện 1 lần), Elnino xảy ra sẽ gây ra tình trạng mất nước từ đó khả năng huy động điện từ nhà máy thủy điện sẽ giảm, từ đó, các doanh nghiệp nhiệt điện, điện hơn sẽ được hưởng lợi. Lanina thì ngược lại. ● Khả năng tăng trưởng công suất: Các nhà máy điện hiện nay thường chỉ hoạt động được 70% – 80% công suất được xây dựng từ lâu, mỗi năm đều phải sửa chữa bảo dưỡng, muốn tăng trưởng công suất thì cần đầu tư xây dựng nhà máy chi phí tài sản lớn từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến khoản tiền cổ tức cho cổ đông. Các DN muốn tăng hiệu quả cần có nguồn tài chính lành mạnh để đảm bảo khả năng tài chính lành mạnh.
● Tỷ giá: DN điện than thường vay nợ dài hạn để đầu tư TSCĐ bằng đồng ngoại tệ, nên sự thay đổi tỷ giá ảnh hưởng đến tình hình tài chính DN. ● Chính sách nhà nước: Nhà nước sẽ khuyến khích và ưu tiên sản xuất điện bằng các NVL có khả năng tái tạo và ít ảnh hưởng đến môi trường (điện nước, gió, trời.) để giảm tác động từ hoạt động sản xuất điện đến môi trường. 17 Từ các đặc điểm, nhân tố ảnh hưởng đến ngành điện năng, có thể thấy ngành điện và ngành xây dựng có nhiều đặc điểm tương đồng (như tác giả đã từng đề cập ở mục 1.6), cụ thể hơn như sau: ● Về ý nghĩa của sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước: Để đánh giá sự phát triển của một đất nước, một quốc gia thì người ta thường nhìn vào cơ sở hạ tầng, vật chất của quốc gia đó. Ngành xây dựng và ngành điện đều thuộc vào cơ sở hạ tầng quốc gia và có những đóng góp rất to lớn vào việc phát triển kinh tế xã hội, cũng như có sự ảnh hưởng vô cùng to lớn đến tất cả các ngành nghề.
➔ Giúp nâng cao năng lực sản xuất phục vụ cho các ngành kinh tế; ➔ Đảm bảo mối quan hệ cân bằng cho sự phát triển kinh tế trong các ngành, các khu vực, các vùng kinh tế; ➔ Nâng cao chất lượng, mang lại hiệu quả cho các hoạt động xã hội, hoạt động quốc gia; ➔ Mang lại lợi nhuận kinh tế cho sự phát triển của đất nước. ● Về đầu vào: Đều bao gồm NVL, máy móc, thiết bị và nhân công. ● Về tính chất ngành: ➔ Đều là những công trình và dự án có quy mô lớn nên cần phải có công tác tổ chức quản lý trong từng khâu để đảm bảo hiệu quả được tốt nhất; ➔ Các vật liệu và máy móc, thiết bị phải di chuyển đến nhiều nơi để làm công trình nên phải quản lý vật tư một cách chặt chẽ để tránh mất mát, hư hỏng đồ; ➔ Quá trình thi công, lắp đặt phải phù hợp với các dự toán ban đầu để giảm thiểu những rủi ro xảy ra trong quá trình hoàn thành dự án; ➔ Quá trình thường chia làm nhiều giai đoạn và thường chịu nhiều yếu tố tác động từ môi trường; ➔ Đều là ngành sản xuất dịch vụ tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ nhu cầu đời sống con người. ● Về đặc điểm của người lao động trong cả hai ngành: ➔ Giới tính: chủ yếu là nam chiếm phần lớn; 18 ➔ Xuất thân từ đa dạng nghề với nhiều vị trí khác nhau, từ học nghề, cao đẳng, đại học, và các cấp bậc cao hơn.
Thông tin khái quát về điện lực Bình Dương (Bắc Tân Uyên) 2.