ĐẶT VẤN ĐỀ Ở nƣớc ta, rừng là tài nguyên quý giá và một bộ phận quan trọng của môi trƣờng sống. Rừng đã có những đóng góp đáng kể vào phát triển nền kinh tế đất nƣớc thông qua các giá trị hàng hóa, dịch vụ, thƣơng mại. Tài nguyên rừng còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, các tác động khai thác quá mức, không bền vững của con ngƣời đã và đang làm suy giảm số lƣợng và chất lƣợng rừng rõ rệt.
Mất rừng và suy thoái tài nguyên rừng đã không chỉ gây ra những tác động xấu đến môi trƣờng nhƣ xói mòn đất, lũ lụt xảy ra với tần suất cao, góp phần dẫn đến biến đổi khí hậu, mà còn ảnh hƣởng đến sinh kế của ngƣời dân và sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Trƣớc thực trạng suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới ngày một nghiêm trọng, hậu quả do việc mất rừng đem lại gây lên những tác động xấu, ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống, tính mạng và tài sản của con ngƣời thì việc quản lý rừng bền vững là một giải pháp tất yếu, một biện pháp quan trọng mà cộng đồng quốc tế cũng nhƣ từng quốc gia thành viên cần phải quan tâm. QLRBV và CCR là xu hƣớng toàn cầu vừa đảm bảo lợi ích quốc gia, đáp ứng đƣợc cả 3 mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế, môi trƣờng và xã hội. Thực hiện QLRBV đồng thời đảm bảo lợi ích cho chính chủ rừng khi muốn đƣa sản phẩm hàng hóa vào các thị trƣờng thế giới một cách thuận lợi và đạt giá trị kinh tế cao.
Đối với mỗi quốc gia, địa phƣơng, đơn vị quản lý hay ngay cả đối với các chủ rừng sự cân bằng giữa ba yếu tố chính của quá trình QLRBV cũng luôn trở thành vấn đề khó thực hiện. Ở Việt Nam để thực hiện quản lý rừng hiệu quả cần xác định rõ vai trò ƣu tiên của từng mặt giá trị giữa kinh tế, xã hội và môi trƣờng từng thời điểm cụ thể. Từ đó đƣa ra những kế hoạch hoạt động quản lý hiệu quả, đảm bảo phát triển bền vững trong tƣơng lai. Hoạt động QLRBV và tiến tới đánh giá cấp chỉ rừng FSC cho nhóm đối tƣợng chủ rừng là hộ gia đình, nhóm hợp tác còn khá mới ở Việt Nam.
Kết quả của hoạt động QLR theo nhóm hộ gia đình có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế khu vực, đƣa những sản phẩm lâm nghiệp của ngƣời dân đến những thị trƣờng có sự cạnh tranh cao và ƣu đãi về giá bán. Giúp thay đổi nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời trồng rừng đối với xã hội. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở nƣớc ta, ngay từ những năm 1998 thông qua sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế nhƣ WWF đã phối hợp thực hiện các hội thảo quốc gia về QLRBV. Sau này các tổ chức nhƣ WB, FAO, GTZ.
đã tham gia hỗ trợ, tài trợ kinh phí tổ chức thự hiện xây dựng mô hình quản lý rừng bền vững tiến tới đánh giá cấp chứng chỉ rừng trên địa bàn nhiều tỉnh thành trong cả nƣớc. Nhận thức rõ tầm quan trọng, vai trò và tác dụng to lớn của rừng đối với biến đổi khí hậu, Việt Nam đã xây dựng Chiến lƣợc phát triển Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020 với 3 chƣơng trình trọng điểm, trong đó QLRBV đƣợc coi là mục tiêu ƣu tiên hàng đầu, mục tiêu thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp; nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42 - 43% vào năm 2010 và 47% vào năm 2020 [8]. Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 phải có ít nhất 500.000 ha diện tích rừng sản xuất đƣợc cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC [2]. Hoạt động quản lý, sử dụng rừng ở Việt Nam từ trƣớc đến nay phần lớn dựa trên kinh nghiệm truyền thống, khi chuyển đổi phƣơng thức quản lý từ thông thƣờng sang phƣơng thức quản lý theo hƣớng bền vững đòi hỏi phải thay đổi hệ thống chính sách, văn bản pháp quy ở cấp độ quản lý.
Đối với cộng đồng dân cƣ địa phƣơng thông qua quá trình tuyên truyền, hƣớng dẫn dần thay đổi tƣ duy lạc hậu theo hƣớng hiện đại hóa, sản xuất lâm nghiệp hiệu quả trên quy mô lớn, mang lại giá trị kinh tế cao. Để có thể cấp đƣợc chứng chỉ rừng cho đơn vị quản lý, chủ rừng cần tiến hành tuân thủ các yêu cầu bắt buộc do tổ chức cấp chứng chỉ đƣa ra. Tuy nhiên quá trình vận dụng tài liệu, áp dụng các nguyên tắc tiêu chí của FSC vào Việt Nam còn gặp phải không ít những khó khăn. Với sự thuận lợi trên địa bàn huyện Thạch Thành đã đƣợc nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật, kinh tế về phát triển lâm nghiệp nhƣ dự án 327, 661, KfW, WB.
Vì lý do đó tôi thực hiện đề tài “Xây dựng phương án quản lý rừng bền vững theo mô hình nhóm hộ chứng chỉ rừng trên địa bàn huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa”. Làm cơ sở tài liệu tham khảo cho các đơn vị, nhóm hộ có nguyện vọng muốn thực hiện quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV và tiến tới cấp chứng chỉ rừng FSC. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm về quản lý rừng bền vững QLRBV đƣợc đƣa ra do nhu cầu phát triển bền vững về tài nguyên của con ngƣời trên toàn cầu.
Hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực lâm nghiệp ngày càng đƣợc tăng cao thông qua các hoạt động sản xuất, chế biến, thƣơng mại dịch vụ. Khi các sản phẩm gỗ có tính đa dạng, đáp ứng nhu cầu số đông mang lại giá trị thƣơng mại trao đổi lớn. Các chủ rừng tăng cƣờng đầu tƣ trang bị máy mọc, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng xuất, sản lƣợng nhằm tăng giá trị thƣơng phẩm. Hoạt động mở rộng quy mô khai thác dẫn tới những áp lực đáng kể lên tài nguyên gỗ.
Sự ảnh hƣởng trực tiếp và gián tiếp đã tác động tới tính bền vững trong khai thác tài nguyên rừng. QLRBV đƣợc hiểu thông qua các khái niệm, định nghĩa sau đây: “Phát triển bền vững là bảo tồn và tăng cƣờng năng lực sản xuất và đổi mới của hệ sinh thái” – Hội nghị Paris 11/1991. Theo hội đồng gỗ nhiệt đới (ITTO) định nghĩa: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt đƣợc một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra”[3]. Cụ thể, xem xét đến việc phát triển sản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm nghiệp đồng thời không làm giảm giá trị hiện có và ảnh hƣởng đến năng suất sau này, cũng nhƣ không gây ra các tác động xấu đến môi trƣờng tự nhiên và xã hội Tiến trình Helsinki: “QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực thực hiện và trong tƣơng lai’’[3].
Các chức năng của rừng về sinh thái, kinh tế đa dạng. không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác. Thuật ngữ QLRBV đƣợc rất nhiều quốc gia, tổ chức đƣa ra quan điểm và thừa nhận nó theo những cách riêng. Nhƣng nhìn chung trong tổng thể về bản 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất hoạt động quản lý rừng là ngƣời chủ rừng, ngƣời đại diện hợp pháp của một khu vực rừng thông qua các công cụ, biện pháp tác động vào rừng nhằm đạt đƣợc hiệu quả kinh tế đồng thời đảm bảo những lợi ích lâu dài của tài nguyên rừng và các vấn đề môi trƣờng - xã hội.
Khi con ngƣời nhận thức đƣợc vai trò, tầm quan trọng của những thay đổi căn bản trong tƣ duy quản lý từ hƣớng canh tác thiếu bền vững, hiệu quả thấp thiếu ổn định sang phát triển nhanh theo hƣớng bền vững, tốn ít chi phí nhƣng vẫn thu đƣợc hiệu quả nhiều mặt. QLRBV ngày càng thu hút sự tham gia của các tổ chức, quốc gia trên thế giới. Hàng loạt các chƣơng trình dự án trong lĩnh vực lâm nghiệp đƣợc triển khai đƣa vào thực tiễn nhẵm thực hiện hiện mục tiêu hƣớng tới phát triển bền vững trong cả cộng đồng. Sự suy giảm tài nguyên rừng a, Sự thay đổi diện tích rừng trên Thế giới Tài nguyên rừng và hoạt động quản lý rừng đã thay đổi đáng kể trong giai đoạn từ 1990 đến nay.
Nhìn chung, giai đoạn này đã thấy một loạt những phát triển tích cực. Mặc dù, trên toàn cầu mức độ của các khu rừng trên thế giới tiếp tục suy giảm khi dân số tiếp tục phát triển nhanh, nhu cầu lƣơng thực và đất tăng cao, diện tích rừng suy giảm, chức năng cơ bản của từng trạng thái rừng ít đƣợc đảm bảo. Từ đó hoạt động quản lý rừng bền vững ngày càng đƣợc chú trọng quan tâm hơn bao giờ hết.128 triệu ha rừng nhƣng đến năm 2015 diện tích này đã giảm xuống còn 3. Đây là thay đổi từ 31,6% diện tích đất toàn cầu năm 1990 xuống còn 30,6 % vào năm 2015 [9].
Hậu quả từ phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tăng nhu cầu sử dụng. đã gây lên những tác hại tiêu cực về môi trƣờng tự nhiên nhƣ tăng lên của nhiệt độ toàn cầu, diện tích hoang mạc, sa mạc tăng lên, mƣa lũ, ngập lụt, cháy rừng trên diện rộng và đa dạng sinh học toàn cầu bị suy giảm. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự thay đổi diện tích rừng toàn cầu Đơn vị: triệu ha Chiều hƣớng Thay đổi hàng Địa điểm Tổng diện tích thay đổi năm Châu Phi 624 ↓ -0.13 (Nguồn: Global forest resources assessment 2015, FAO) Phần lớn rừng trên thế giới là rừng tự nhiên, với diện tích lên tới 93% diện tích rừng toàn cầu năm 2015.
Trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2000 diện tích rừng suy giảm hàng năm đạt 10,6 triệu ha. Từ năm 2010 đến năm 2015, diện tích rừng tự nhiên giảm khoảng 6,5 triệu ha mỗi năm. b, Sự thay đổi diện tích rừng Việt Nam Phần lớn các nƣớc đang phát triển trên thế giới có thống kê diện tích rừng đều suy giảm trong giai đoạn năm 1990 đến nay. Tuy nhiên Việt Nam đạt đƣợc sự tăng trƣởng về độ che phủ diện tích rừng trong giai đoạn này.
Diện tích rừng trồng đạt tăng trƣởng mạnh lên tới 4,3 lần kể từ năm 1990 đến 2015 nhờ các chính sách, định hƣớng phát triển lâm nghiệp trên cả nƣớc.