ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên rừng đã và đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển lâm nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với Việt Nam, một nước có phần lớn diện tích đất tự nhiên là đất lâm nghiệp. Theo đó, công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp là thực sự cần thiết đối với cả nước nói chung và mỗi địa phương nói riêng. Việc nghiên cứu, quy hoạch phát triển lâm nghiệp nhằm bố cục hợp lý không gian về tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định hướng cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, cho xuất khẩu và đời sống nhân dân, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng đặc biệt là những tác dụng về môi trường trong tình hình biến đối khí hậu trên toàn cầu hiện nay. Trong những năm qua, quá trình sản xuất kinh doanh và xây dựng vốn rừng của xã đạt hiệu quả không cao.
Diện tích đất trồng có thể cải tạo và trồng mới còn nhiều cùng với công tác quản lý bảo vệ không tốt nên rừng bị chặt phá và hiện tượng cháy rừng xảy ra liên tiếp. Do đó diện tích đất có rừng luôn giảm. Để duy trì và nâng cao vốn rừng tăng thu nhập cho cán bộ cũng như người dân địa phương, cần đánh giá chính xác tài nguyên rừng và tình hình sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa bàn, từ đó đưa ra phương án phát triển sản xuất lâm nghiệp. Xuân Thành là xã thuộc vùng bán sơn địa nằm ở phía nam trung tâm huyện Yên Thành – Nghệ An.
Xã có điều kiện tự nhiên tương đối phù hợp cho phát triển sản xuất lâm nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay tại xã việc khai thác và sử dụng đất còn chưa đúng mục đích và chưa hợp lý dẫn đến đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, đất đai bị thoái hóa và diện tích canh tác bị thu hẹp. Để góp phần cải thiện và nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng nguyên liệu, tận dụng diện tích đất trống đồi núi trọc một cách hợp lý, có hiệu quả, nhằm 1 chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ nói chung và nguồn nguyên liệu cho ngành bột giấy nói riêng. Với những lý do trên, được sự nhất trí của bộ môn và người hướng dẫn, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Xây dựng phương án phát triển sản xuất lâm nghiệp cho xã Xuân Thành - huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2030”.
Kết quả của đề tài góp phần xây dựng cơ sở khoa học cũng như thực tiễn trong công tác phát triển lâm nghiệp ở địa phương. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Quy hoạch nói chung có thể được hiểu là những tư duy hiện tại về các hoạt động trong tương lai, mà những hoạt động này mang tính logic, hệ thống, có liên quan đến nhau, thiết lập nên một trật tự các hoạt động trong một không gian và thời gian nhất định, dựa trên việc huy động các nguồn lực nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu xác định, tạo nên sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực, hoặc phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của một phạm vi, đơn vị lãnh thổ. Luật quy hoạch được quốc hội thông qua năm 2017 đã đưa ra khái niệm về quy hoạch và hoạt động quy hoạch như sau: - Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định. Trên thế giới Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Do nhiều ngành kinh tế phát triển nên nhu cầu về gỗ ngày càng tăng, sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm bảo đảm thu hoạch lợi nhuận lâu dài của chủ rừng. Hệ thống về lý luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã được hình thành, phát triển trong hoàn cảnh như vậy. Đến thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác dài và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích.
Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn. Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19, phương thức kinh doanh rừng hạt ra đời với chu kỳ khai thác dài. Và phương thức “khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “chia đều” của Hartig. Phương thức của 3 Hartig đã chia chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm.
Đến năm 1816, xuất hiện phương pháp phân kỳ lợi dụng của H. Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm. Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch ra đời”. Quan điểm phương pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong kỳ sau.
Và đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich, phương pháp này khác với phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản. Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào khai thác. Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau. Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn” có nghĩa là yêu cầu rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như diện tích khai thác.
Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này được áp dụng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú. Còn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng thích hợp với quan điểm coi trọng chăm sóc nuôi dưỡng làm giàu rừng. Cũng từ phương pháp này còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra”, “Phương pháp mô hình định hướng”. Quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng hình thành môn học đầu tiên ở nước Đức, Áo và mãi đến thế kỉ XVIII mới trở thành môn học hoàn chỉnh và độc lập.
Thời kì đầu môn học quy hoạch lâm nghiệp xác định sản lượng rừng làm nhiệm vụ duy nhất nên gọi là môn học “Tính thu hoạch rừng”. Sau nội dung quy hoạch lâm nghiệp chuyển sang bàn về việc lợi dụng bền vững nên môn học được đổi thành “Quy ước thu hoạch rừng”. Sau này nội dung môn học được chuyển 4 sang nghiên cứu về điều kiện sản xuất và tổ chức kinh doanh rừng, tổ chức rừng và chi phôi giá cả, lợi nhuận và môn học có tên là “Quy hoạch kinh doanh rừng”. Hiện nay tùy theo mục đích, nhiệm vụ của quy hoạch lâm nghiệp phải đảm nhiệm trong từng quốc gia, từng địa phương và trong từng điều kiện cụ thể mà môn học có nội dung và tên gọi khác nhau.
Ở Liên Xô cũ và Trung quốc thường có tên gọi là “Quy hoạch rừng”, các nước có trình độ kinh doanh rừng cao và công tác quy hoạch yêu cầu tỉ mỉ hơn (Đức, Áo, Thụy Điển) có tên gọi là “Thiết kế rừng”. Các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Canada… gọi tên môn học là “Điều chế rừng” (Forest management) … 1. Trong nước Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta có ngay từ thời Pháp thuộc như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi… Đến năm 1955-1957 tiến hành sơ thám và mô tả để ước lượng tài nguyên rừng, năm 1958-1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc. Từ những năm 1960-1964 công tác quy hoạch lâm nghiệp áp dụng từng bước phát triển tại miền Bắc.
Từ năm 1975 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường mở rộng. Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các sở lâm nghiệp, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp tiên tiến của các nước vận dụng phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng Việt Nam. Từ năm 1976 sau khi thống nhất đất nước sang những năm 80 của thế kỷ XX, công tác quy hoạch cho các đơn vị lãnh thổ được coi trọng và triển khai thực hiện, đặc biệt quy hoạch cấp huyện trong đó quy hoạch lâm nghiệp ở các huyện có rừng cũng hết sức được quan tâm triển khai thực hiện. Trong những năm 1990, ngành lâm nghiệp đã chỉ đạo đẩy mạnh triển khai xây dựng và thực hiện phương án điều chế rừng (hoặc phương án điều chế rừng đơn giản) cho các lâm trường trong toàn quốc.
Trong quá trình phát triển, toàn ngành đã xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp các giai đoạn: Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 1991-2000 do Bộ trưởng Bộ lâm nghiệp phê duyệt, chiến lược phát triển 5 lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010 do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt, Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 do Thủ tướng chính phủ phê duyệt, Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2021-2030 do Thủ tướng chính phủ phê duyệt. Đối tượng quy hoạch lâm nghiệp theo các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm phạm vi diện tích quản lý theo các đơn vị quản lý lãnh thổ, ở Việt Nam hiện nay là các đơn vị hành chính từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã. Đối với những đối tượng quy hoạch rộng lớn (toàn quốc, vùng nhiều tỉnh, tỉnh) thường còn có thể xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp.