LỜI MỞ ĐẦU Bodhimūle pallaṅkamhi Māraṃ sasena āvudhaṃ Gahetvā pāramiṃ khaggaṃ Yo jināti jayussavo Sabbe verī pahantvāna So me detu jayaṃ varaṃ. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác là vị chiến thắng trong thế gian, thượng ngự trên bảo tọa dưới cội bồ đề và chú tâm phát nguyện cố gắng tỏ ngộ tứ thánh đế, cầm thanh gươm Ba-la-mật để chiến thắng thiên ma (māra), là người muốn chinh phục thế gian cùng với vô số quân ma có vô lượng vũ khí. Mong năng lực pháp độ của đức Chánh giác ấy hãy là cây lọng chiến thắng ngăn cản những điều rủi ro, tai hại bên trong lẫn bên ngoài, mong những sự lợi ích ủng hộ to lớn ấy phát sanh đến cho tôi. Trong đời sống của mỗi người chúng ta không làm điều ác, không có nghĩa là có làm điều thiện.
Điều ác chắc chắn cần phải trừ bỏ và cũng phải nên làm điều thiện lành để trợ duyên cho con đường đưa đến giác ngộ Níp-bàn trong ngày vị lai. Thuận theo huấn từ của ba đời chư Phật được thuyết vào ngày trăng tròn tháng Giêng, ấy là ngày trọng đại của Phật giáo. Vào ngày này, Đức Phật giáo giới Ba- la-đề-mộc-xoa, đây được xem như cốt lõi hay kim chỉ nam trong tông giáo, đó là: 6 “Sabbapāpassa akaraṇaṃ, Kusalassa upasampadā Sacittapariyodapanaṃ Etaṃ buddhāna sāsanaṃ”. “Không làm các điều ác, Thành tựu các việc thiện Giữ tâm luôn trong sạch Là lời chư Phật dạy.” (Pháp cú kinh – 183) Trong quyển sách này, tôi xin trình bày chi tiết về cách làm những việc thiện, những hành động tốt đẹp đem lại quả lợi ích lớn lao, có thể đè nén pháp bất thiện của mỗi người chúng ta.
Vì theo lẽ thường khi tâm thiện sanh thì tâm bất thiện vắng mặt. Hành động tốt đẹp trong Phật giáo ấy trình bày lại trong Phúc hành tông, dịch là nền tảng của việc làm phước, điều pháp được sắp vào việc làm phước hay cách làm điều tốt đẹp, là cách làm phước đúng đắn nhất theo phần chánh của Phật giáo, sẽ thấy rằng một số cách làm phước, là điều chúng ta đã từng biết qua rồi, một số điều chúng ta cũng không biết việc đang làm có phải là phước. Đối với một số người chưa từng biết rằng có nghi thức làm phước như vậy với một số người vẫn hiểu lầm rằng việc làm phước có phước chỉ có nằm ở một số cách như đặt bát, cúng dường tứ vật dụng đến chư tăng hay phóng sanh chim, cá, rùa, bò mà thôi. Nhưng sự thật thì có rất là nhiều cách làm phước, do đó ta cũng nên hiểu một cách đúng đắn trong vấn đề làm phước theo Phật 7 giáo để làm phước, tích tạo thiện cho đúng, không nhẹ dạ cả tin và đạt được kết quả lớn lao, không thất bại mà lại được sanh là người nhân loại, người may mắn được gặp Phật giáo.
Thời điểm chúng ta làm phước hay mỗi lần làm việc tốt, ngoài những việc phước liên hệ đến Phật giáo như đặt bát, giữ giới, tu tiến v.v… thì cách nói chuyện giúp cho người khác phát sanh sự yên lòng khi gặp điều đau khổ, cách trao đổi pháp, bố thí pháp, chung tay hùn phước in ấn kinh sách, cách chỉ rõ hướng dẫn gỡ bỏ vấn đề trong cuộc sống cho người mất hết hy vọng, dọn dẹp phòng ốc chư tăng, cùng tùy hỷ trong việc làm tốt đẹp của người khác bằng cách hướng tâm vào thiện phước, quét lá trong sân chùa, làm sạch tưới nước vườn trong chùa hay nơi công cộng, dọn dẹp nhà vệ sinh ở chùa hay nơi công cộng, chăm sóc người bệnh, người già hay trẻ em. Vấn đề chúng ta có tâm tốt hay có sự cố quyết tốt v.v… Tất cả đây đều là thiện (kusala) và phước (puñña) cả thảy. Như trong kinh Pháp Cú câu số 16 và câu 18 Đức Phật dạy rằng: “Idha modati pecca modati, Katapuñño ubhayattha modati; So modati so pamodati, Disvā kammavisuddhimattano”. “Nay vui, đời sau vui, Làm phước, hai đời vui.
8 Người ấy vui, an vui, Thấy nghiệp tịnh mình làm.” “Idha nandati pecca nandati, Katapuñño ubhayattha nandati; ‘Puññaṃ me kata’nti nandati, Bhiyyo nandati suggatiṃ gato”. “Nay sướng, đời sau sướng, Làm phước, hai đời sướng. Mừng rằng: ‘Ta làm thiện’, Sanh cõi lành, sướng hơn.” Quyển sách này được tôi dịch từ “Cẩm nang tạo phước bố thí – trì giới – tu tiến” của Ngài trưởng lão Saddhamma Jotika Dhammacariya, đồng thời có trích thêm nhiều nguồn kinh và chú giải để dẫn chứng cho dễ hiểu. Không như bao quyển sách khác, quyển sách này chưa được gọi là thật sự đầy đủ chi tiết như giáo trình dạy học, nhưng quyển sách này cũng có thể tạm gọi là đầy đủ trên phương diện tóm lược khái quát về ý nghĩa, cách thực hành cũng như ân đức của pháp thiện ấy để cho chúng ta có thể nắm bắt và thực hành theo được thuận tiện dễ dàng để tránh khỏi sai lầm và mê tín.
9 Vì sở học còn non kém nên không sao tránh khỏi sự sai sót trong quá trình biên dịch, ngưỡng mong các bậc thiện trí từ bi hoan hỷ đóng góp sửa sai để bản dịch hoàn thiện hơn. Phước thiện từ việc biên soạn và dịch lại tài liệu này được thành tựu cũng do sự góp sức của nhiều vị như sư huynh Siêu Thiện (Abhikusala), thầy Ngộ Đạo (Maggabujjhano), cận sự nam Thiện Hiếu, cận sự nữ Diệu Thanh, cùng nhiều vị Phật tử thân cận khác. Xin tri ân sư cả Chandasuddhivad trụ trì chùa Yangsuttharam và chư tăng đã tạo điều kiện cho con sinh hoạt tại đây. Đồng thời tri ân quý vị Phật tử thân cận hỗ trợ điều kiện cho chúng tôi học tập tại Thái Lan.
Xin chia phần phước thiện thanh cao này đến ông bà, cha mẹ, thầy tổ, thân bằng quyến thuộc còn tại tiền cũng như đã quá vãng. Khi đã hay biết được rồi thì phát sanh tâm hoan hỷ trợ duyên trong quá trình đến giác ngộ Níp- bàn trong ngày vị lai đồng đều nhau cả thảy. Idaṃ me puññaṃ āsavakkhayā vahaṃ hotu Idaṃ me puññaṃ nibbānassa paccayo hotu Dịch giả Bhikkhu Siêu Thành ___o0o___ NÓI VỀ PHƯỚC Từ Pāḷi “Puñña” (phước) có rất nhiều ý nghĩa như sau: 1. Puñña (phước) có nghĩa là thiện, tức sự tốt đẹp, sự khôn khéo.
Người làm phước phải có tâm tốt đẹp, có tâm là đại thiện, khôn khéo như là làm với niềm tin chân chánh, làm với sự tôn kính, làm mà không hại mình và hại người khác, làm để trợ giúp, làm để cúng dường ân đức, làm theo thời v. Puñña (phước) nghĩa là công cụ tẩy trừ cấu uế cho sạch sẽ, thanh tịnh như là sự bủn xỉn v. sự bủn xỉn là cấu uế bởi làm cho tâm phiền muộn. Nếu đã có phước thì phước ấy sẽ tẩy trừ bợn nhơ ra khỏi uẩn cơ tánh làm cho không còn những phiền muộn.
Puñña (phước) nghĩa là hành động chân chánh của thân, khẩu, ý như bố thí, giữ gìn giới, tu tiến v. Puñña (phước) nghĩa là an lạc tức người làm phước chắc chắn nhận được sự an lạc thân và tâm ở kiếp hiện tại và kiếp vị lai. Puñña (phước) nghĩa là đưa người thể nhập vào tư cách của người thích hợp cho sự cung kính, cúng dường, cũng như Phíc-khú là người giữ 227 giới là mẫu mực tốt đẹp hẳn thích hợp cho sự đảnh lễ cúng dường của mọi người v. 12 Việt dịch: Bhikkhu Abhisiddhi – Siêu Thành Kết lại, phước nghĩa là công cụ tẩy trừ cơ tánh, hay tẩy trừ trạng thái cấu uế làm cho tâm trong sạch, hay nghĩa là sự an lạc tiến hóa, hay nghĩa là hành vi chân chánh của thân khẩu ý, cách làm việc tốt như bố thí, trì giới, nghe pháp, tu tiến tức chỉ nghiệp xứ và quán nghiệp xứ.
Do đó, Puñña (phước) cũng có 3 trạng thái là: 1. Khi nói đến nhân của phước, đó là cách làm việc tốt. Khi nói đến quả của phước, đó là sự an lạc tiến hóa. Khi nói đến trạng thái tâm, đó là tâm trong sáng thanh tịnh.
Vì thế, cách hiểu vấn đề phước trong Phật giáo sẽ phải hiểu hết cả ba trạng thái của phước, nên cũng sẽ gọi là hiểu được tất cả phước một cách đúng đắn. Đức Chánh đẳng giác thuyết về nền tảng cách làm phước theo hệ thống nên học tập, gọi là tam phúc hành tông (Tipuññakiriyāvatthu), kế đó những vị giáo sư chú giải phân tách cho thấy từng điều trong sự mở rộng ý nghĩa ra thành Thập phúc hành tông (Puññakiriyāvatthu) như sau: Phúc hành tông1 (puññakiriyāvatthu) theo phần chánh có 3 điều (như là tam học) tức là: 1 Nền tảng của hành động phước thiện. PUÑÑAKIRIYAVATTHU - PHÚC HÀNH TÔNG 13 1. Bố thí (dāna) nghĩa là cách cho, hào phóng, chia sẻ vật dụng làm lợi ích đến cho người nhận và vừa để giảm phiền não nơi tự thân.
Trì giới (sīla) nghĩa là sự thu thúc thân, khẩu, ý cho diễn tiến theo nề nếp, hành theo thiện hạnh, có sự liên quan tốt đẹp, giúp đỡ nhau, không ép uổng lấn áp nhau v. Tu tiến (bhāvanā) nghĩa là làm cho tâm thiện thường phát sanh đều đều trong căn tánh của mình để an lạc tiến hóa, hay làm cho tâm được huấn luyện phát triển, tuệ tăng trưởng v. Như có đoạn chánh văn được thuyết trong Tiểu bộ kinh, Phật thuyết như vậy, Nhóm ba pháp, phẩm thứ nhì, kinh Nền tảng của việc hành thiện như vầy: “Vuttañhetaṃ bhagavatā, vuttamarahatāti me sutaṃ – Tīṇimāni, bhikkhave, puññakiriyavatthūni. Katamāni tīṇi? Dānamayaṃ puññakiriyavatthu, sīlamayaṃ puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṃ puññakiriyavatthu – imāni kho, bhikkhave, tīṇi puññakiriyavatthūnī’’ti.
Etamatthaṃ bhagavā avoca. Tatthetaṃ iti vuccati – ‘‘Puññameva so sikkheyya, āyataggaṃ sukhudrayaṃ; Dānañca samacariyañca, mettacittañca bhāvaye. ‘‘Ete dhamme bhāvayitvā, tayo sukhasamuddaye; Abyāpajjhaṃ sukhaṃ lokaṃ, paṇḍito upapajjatī’’ti. 14 Việt dịch: Bhikkhu Abhisiddhi – Siêu Thành Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.” Nghĩa: “Ðiều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc Vô sanh nói đến, tôi đã nghe như vầy: 1.
“Này các phíc-khú, đây là ba nền tảng của hành động phước thiện. Ba nền tảng nào? Nền tảng của hành động phước thiện gồm có bố thí, nền tảng của hành động phước thiện gồm có giới, nền tảng của hành động phước thiện gồm có tu tập (tham thiền). Này các phíc-khú, đây là ba nền tảng của hành động phước thiện.” Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy: 2.
“Vị ấy nên học tập thuần về phước thiện làm sanh lên an lạc tối cao kéo dài, nên tu tập bố thí, sự thực hành bình lặng, và tâm từ ái. Sau khi tu tập ba pháp làm sanh lên an lạc này, bậc sáng suốt sanh lên cõi an lạc, không khổ sầu.” Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.”2 2Tỳ-khưu Indacanda dịch Việt.