CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG 1.Khái niệm du lịch Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng – kinh tế xã hội phổ biến. Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế(World Travel and Tourism Council – WTTC) đã công bố du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoai tệ quan trọng nhất trong ngoại thương.
Tại nhiều quốc gia khác, du lịch là một trong ba ngành kinh tế hàng đầu. Du lịch đã nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới. Du lịch ngày nay là một đề tài hấp dẫn và đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của cuộc sống.
Du lịch được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính đa ngành, tính liên vùng và mang tính xã hội hóa cao. Trãi qua hơn 50 năm ìhnh thành và ph át triển, du lịch Việt Nam đã từng bước đổi mới, đạt được nhiều thành quả tốt đẹp, đặc biệt là vào những năm 90 trở lại đây, du lịch thực sự góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của hàng loạt ngành như vận tải, thương mại, bảo hiểm, y tế, các hoạt động phục vụ nhu cầu giải trí, ăn uống, các hoạt động văn hóa khác…Đồng thời, hoạt động du lịch còn góp phần tăng cường sự hợp tác các mối quan hệ xã hội, tình hữu nghị, hợp tác, đoàn kết giữa các quốc gia, các dân tộc. Với hiệu quả tích cực đó, nước ta đã rất chú trọng phát triển du lịch, coi du lịch là một ngành kinh tế chiến lược quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế đất nước.
Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ nhanh, song cho đến nay khái niệm “du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và với nhiều gốc độ khác nhau. Với Giáo sư, 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : DƯƠNG THỊ LỆ TRÂM Tiến sĩ Berneker – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”. Tuy chưa có một nhận thức thống nhất về khái niệm “du lịch” trên thế giới cũng như ở Việt Nam, song trước thực tế phát triển của ngành du lịch về mặt kinh tế, xã hội c ũng như trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu, thảo luận để đi đến thống nhất khái niệm “du lịch” cũng như một số khái niệm cơ bản khác về du lịch là một đòi hỏi khách quan. Nếu trước đây, khái niệm du lịch chỉ bó hẹp trong phạm vi hoạt động của con người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên với mục đích tham quan, vui chơi giải trí….
thì ngày nay, khái niệm du lịch đã được mở rộng rất nhiều. Theo tổ chức du lịch Thế giới (WTO) “Du lịch là hoạt động về chuyến đi, đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại nơi đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí háy các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”. Tại hội nghị Liên hiệp quốc về du lịch họp tại Roma-Italia(21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch như sau : “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tê bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến cư trú không phải là nơi là việc của họ.
Định nghĩa về du lịch trong cuốn Từ điển bách khoa quốc tế về du lịch –Le Dictionnaire international du tourisme do Viện hàn lâm khoa học quốc tế về du lịch xuất bản : “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch…Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là nhữ ng công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ”. Theo Luật du lịch Việt Nam : “Du lịch là một hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng một thời gian nhất định”( Pháp lệnh du lịch, tháng 2/1999). 9 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : DƯƠNG THỊ LỆ TRÂM Các hoạt động du lịch liên quan chặt chẽ đến môi trường, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn, như khái niệm đã được nêu : “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên”( Điều 1, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam, 1994). Đối với đề tài tôi nghiên cứu, khái niệm “Du lịch” có ý nghĩa và rất có ích, nó giúp cho người đọc nhận thức rõ hơn về việc đi du lịch là như thế nào hoạt động du lịch là ra sao tùy theo quan niệm của từng cá nhân, từng quốc gia.
Và đối với Việt Nam nói chung và đảo Phú Quốc nói riêng, du lịch đang là ngành kinh tế nổi bật, đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho nhà nư ớc, người dân địa phương… bên cạnh đó du lịch góp phần thỏa mãn nhu cầu mong muốn, tìm hiểu, tận hưởng của du khách. Khách du lịch Trong hoạt động du lịch thì du khách đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ thành công của một tour du lịc h cũng như là một nhân tố tác động đến môi trường. Theo WTO, khách du lịch là người thực hiện hoạt động rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình để đến một hoặc nhiều nơi khác, thời gian 24h đi đến dưới 12 tháng nhằm sử dụng thời gian nhàn rỗi cho các nhu cầu văn hóa sức khỏe, giải trí, học hỏi. Theo Ozep Stander (Nhà kinh tế học người Áo), khách du lịch là loại khách đi lại theo sở thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục tiêu kinh tế.
Theo luật du lịch Việt Nam, khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Theo điều 34- Chương V Luật du lịch, quy định khách du lịch gồm : khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. 10 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : DƯƠNG THỊ LỆ TRÂM Khách du lịch quốc tế : Là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam,người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch Khách du lịch nội địa : Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, Phú Quốc là một điểm đến du lịch nổi tiếng, được nhiều người biết đến và lựa chọn, vì thế, việc tìm hiểu khái niệm “Khách du lịch” là cần thiết, giúp ích cho đề tài thể hiện rõ hơn về tình trạng du khách cũng như số lư ợng khách đến Phú Quốc hàng năm.
Tài nguyên du lịch Theo Nguyễn Minh Tuệ cho rằng : “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thế lực, trí tuệ của con người. Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”.( Nguyễn Minh Tuệ - Địa lý du lịch, NXB Tp. Hồ Chí Minh,trang 33, 1997) Theo các nhà khoa ọhc du lịch Trung Quốc định nghĩa : “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều cò thể gọi là tài nguyên du lịch”(Ngô Tất Hổ, Phát triển và quản lý du lịch địa phương, NXB Khoa học Bắc Ninh,2000,tr41.) Theo Luật du lịch Việt Nam : “tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Đặc điểm chung của tài nguyên du lịch: Một số loài tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế xã hội Tài nguyên du ịch l có phạm trù lịch sử nên ngày càng có nhiều loại tài nguyên du lịch được nghiên cứu, phát hiện, tạo mới và đưa vào khai thác sử dụng.
11 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH : DƯƠNG THỊ LỆ TRÂM Tài nguyên du lịch mang tính biến đổi. Hiệu quả và mức độ khai thac tài nguyên du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất để khai thác… Tài nguyên du ịlch phong phú đa dạng, có các gia trị thẩm mỹ văn hóa, lịch sử, tâm linh, giả trí có sức hấp dẫn với du khách. Tài nguyên du lịch bao gồm các loại tài nguyen v ậ thể và tài nguyên phi vật thể. Tài nguyên du ịch l là những tài nguyên có thể tái tạo lại được Tài nguyên du lịch có tính sở hữu chung.
Việc khai thác tài nguyên du lịch gắn chặt với vị trí địa lý. Tài nguyên du lịch thường có tính mùa vụ và việc khai thá c tài nguyên du lịch cũng mang tính mùa vụ. Tài nguyen du lịch mang tính diễn giải và cảm nhận Đặc điểm của tài nguyên du lịch tự nhiên : Nếu được quy hoạch, bảo vệ khai thác hợp lý theo hướng bền vững thì phần lớn các loại TNDL tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận, tài nguyên có thể tái tạo hoặc có qua trình suy thoái chậm.