CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUYỆN “PHỎNG TRUYỀN KÌ” TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX 1. Từ truyện truyền kỳ trong văn xuôi trung đại đến truyện “phỏng truyền kì” nửa đầu thế kỷ XX 1. Truyện truyền kỳ và vấn đề mô phỏng trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Truyện truyền kỳ là tên gọi của một hiện tượng văn học đã có từ lâu đời. Nhà văn Lỗ Tấn, trong “Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc”, cho rằng loại truyện này (ông gọi là tiểu thuyết) xuất hiện từ đời nhà Đường.
Lúc này, “truyền kì” vừa là những “sưu tầm chuyện kì lạ” vừa là những chuyện sáng tác “tự mình suy nghĩ ra một cách hay ho kì diệu, mượn tiếng tiểu thuyết để gửi gắm tình ý” [30, 77]. Người đầu tiên lấy khái niệm “truyền kì” đặt tên cho tập truyện của mình là Bùi Hinh, một tác giả thời nhà Đường. Truyện truyền kì được người đương thời rất ưa chuộng. Người ta sáng tác hoặc sưu tầm những chuyện lạ đóng thành tập (gọi là hành quyển) làm món quà ra mắt những nhà quyền quý để tiến thân hoặc tiến cử.
Nhiều truyện truyền kì đời Đường trở thành những tác phẩm kinh điển, làm điển cổ văn học cho cả ngàn năm sau trong giới cầm bút ở các nước dùng chữ Hán. Những điển cố “giấc Nam Kha”, “giấc mộng hoàng lương”, “liễu Chương Đài”…, đều xuất phát từ truyền kì đời Đường. Ở Việt Nam, truyện được đặt tên là “truyền kì” xuất hiện khá muộn. Phải đến thế kỉ XVI, với “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ, lần đầu tiên khái niệm này mới được dùng.
Tuy nhiên, trên thực tế, ngay từ thế kỷ XIII, XIV những tác phẩm thuộc loại hình văn học này như “Thiền uyển tập anh” (Khuyết danh), “Tam tổ thực lục” (Khuyết danh), “Việt điện u linh tập” (Lý Tế Xuyên)… đã được truyền tụng rộng rãi. Kiểu truyện này kéo dài đến tận những thập niên đầu của thế kỉ XX. Vậy truyện thế nào thì gọi là truyện truyền kì? Chúng tôi dựa vào một số kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phong Nam để nhận diện truyện truyền kì. Theo đó, trước tiên, chúng phải là “những câu chuyện được kí chép bằng chữ Hán” [25, 62].
Một số nhà văn như Quách Tấn, Phan Kế Bính, Toan Ánh… đã dùng quốc ngữ viết một số tập truyện giống với truyện truyền kì, tuy nhiên đây chỉ là truyện “phỏng” truyền kì, chứ không thể là truyện truyền kì. Đặc điểm quan trọng nhất của truyện truyền kì là “kể những câu chuyện kì lạ, bắt nguồn từ cộng đồng” [25; 62]. Truyện truyền kì trung đại Việt Nam hầu hết có hình thức 11 một chuyện kể. Chúng được sinh ra để kể.
Tuy nhiên, chúng không phải là truyện kể dân gian. Chúng không chủ yếu “lí giải các hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội” [12; 298] như truyện thần thoại; cũng không “phản ảnh và lí giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kì, một bộ tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương [12; 367] như truyền thuyết; không đặt nặng “phản ảnh và lí giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng” [12; 368] như truyện cổ tích; và cũng không đề cao ngụ ý, khuyên răn như các chuyện ngụ ngôn dân gian. Mục đích lớn nhất và đầu tiên của chúng là kể chuyện lạ (kì). “Truyền kỳ là truyền những tình tiết khác lạ.
Tình tiết không li kỳ thì không truyền” (Khổng Thượng Nhậm, đời Thanh) [32; 139]. “Vô kì bất truyền” là nguyên tắc bất di bất dịch của truyện truyền kì. Chúng phải là những câu chuyện “kể về các nhân - vật - sự kì lạ, khác thường” [25; 31]. Tất nhiên, câu chuyện nào cũng mang một hàm ý của nó.
“Liêu trai chí dị” (Bồ Tùng Linh) và “Truyền kì mạn lục” có tính chất phê phán xã hội rõ nét, nhưng cái “dụng ý” ấy của tác giả phải được toát ra từ trong các chi tiết kì quái. Những câu chuyện có ý nghĩa khuyến thiện trừng ác đầy trong truyền kì, tuy nhiên những lời khuyên nhủ, rao giảng này phải được thốt lên từ “cái miệng” kì ảo của truyền kì. Truyền kì là những câu chuyện về nhân- vật- sự kì lạ, khác thường, tuy nhiên, chúng không thuần túy chỉ có như vậy, với riêng truyền kì Việt Nam, chúng còn có ý nghĩa “Bổ khuyết lịch sử và nhằm xiển dương những giá trị văn hóa Việt” [25; 63]. Truyện truyền kì trung đại Việt Nam rất phong phú và đa dạng.
Có thể kể đến những tập truyện tiêu biểu như: Việt điện u linh tập, Thiền uyển tập anh ngữ lục, Lĩnh Nam chích quái lục, Nam Ông mộng lục, Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Công dư tiệp kí, Lan Trì kiến văn lục, Sơn cư tạp thuật, Tang thương ngẫu lục, Vũ Trung tùy bút, Tân đính Lĩnh Nam chích quái, Bích Châu du tiên mạn kí, Thoái thực kí văn, Việt Nam kì phùng sự lục, Hoa viên kì ngộ tập, Vân nang tiểu sử, Thính văn dị lục, Hát đông thư dị… Đối với truyện truyền kì, yếu tố truyền kì có vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể coi đó là “linh hồn” của kiểu loại văn học này. Chính vì thế cho nên việc tìm hiểu yếu tố truyền kì là điều cần thiết. Theo chúng tôi, có hai điểm chính trong khái niệm “truyền kì” là “kì lạ” và “kì ảo”.
“Kì lạ” là những gì người đương thời cho là khác thường. Truyền kì có kể về những người ăn khỏe, như Lương Hữu Khánh, Lê Như Hổ… Họ vốn là nhân vật lịch sử, có tên tuổi trong các thư tịch, sử sách. Tuy nhiên chính sử thường chỉ nói chuyện họ đỗ đạt, làm quan, có công với triều đình, được phong tước…, chứ không đề cập đến chuyện khi họ còn hàn vi đã chật vật, khổ sở vì cái “bệnh” ăn nhiều của mình như thế nào. Truyền kì khai thác những điều còn trống trong chính sử và cho đó là những chuyện kì lạ.
Tuy nhiên, ngày nay, nhìn rộng ra thế giới, những người ăn khỏe như thế hoặc hơn thế không hiếm. 12 Một người đàn bà đi đỡ đẻ cho cọp, một người đàn ông chữa hóc xương cho cọp, ngày nay không còn là chuyện lạ với những người coi giữ những khu bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm nhưng với Vũ Trinh ngày xưa lại là kì lạ. Tương tự như vậy, hai con hổ và gấu đánh nhau đến chết vì con này tưởng con kia chọc phá mình (“Gấu hổ chọi nhau”); một người ăn trộm hoàn lương đi đánh giặc có công và làm quan (“Tên ăn trộm”); một nho sinh yêu cùng lúc bốn cô gái, sau đó đỗ đạt cưới cả bốn cô này (“Cuộc gặp gỡ kì thú ở vườn hoa)…đều là những chuyện mà tác giả truyền kì cho là “kì lạ” và vì vậy viết thành truyện truyền kì. Đối với yếu tố “kì ảo” thì khác; ngoài cái “kì” còn có cái “ảo”.
“Kì” trong “kì ảo” là những chuyện không thể xảy ra trong cuộc đời thực. Đây là những điều bất khả. Một người phụ nữ có thai chết được chôn dưới mồ. Ở dưới đó, cô ta sinh con.
Người nhà phát hiện đào lên, đứa con vẫn sống bình thường (“Sinh đẻ kì lạ”). Một người thuê thuyền đi buôn trên biển, bị chủ thuyền xô xuống biển để cướp tài sản, được một con cá cõng vào bờ. Câu chuyện như vậy thì chỉ là kì lạ. Nhưng đến khi con cá chở người bị hại vào ngay cái đồn binh trên biển, nơi mà mấy ngày sau, tên chủ thuyền ăn cướp cũng ghé tàu vào và bị bắt thì đó là “kì” của “kì ảo” (“Cá thần”).
Những chuyện táng người thân vào đất tốt, con cháu hiển vinh đỗ đạt; những con rắn, khỉ hiếp người rồi sinh ra con người; những người chết chôn xuống đất đã mấy ngày đào lên vẫn còn sống… đều là yếu tố “kì”. Tuy nhiên, đậm đặc nhất trong truyện truyền kì là yếu tố “ảo”. Yếu tố này thường gắn với những nhân - vật - sự tưởng tượng, siêu nhiên, không có trong cuộc đời: ma, quỷ, hồ ly tinh, thần, phật, tiên, thánh, Ngọc hoàng, Diêm vương, cá thần, rắn thần, các loại cây, hoa thành tinh…Số lượng truyện có yếu tố “ảo” chiếm tỷ lệ lớn nhất so với yếu tố “kì” và “kì lạ” trong truyện truyền kì và truyện có yếu tố truyền kì. Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX không chỉ mô phỏng truyện truyền kì trung đại phương Đông mà bất cứ kiểu/ loại truyện nào có yếu tố truyền kì, trong đó, rõ nhất là mô phỏng truyện/chuyện kể dân gian và truyện ngắn cận đại phương Tây- hai kiểu/loại truyện có yếu tố truyền kì.
Theo Nguyễn Phong Nam, truyện truyền kì trung đại Việt Nam hình thành từ hai nguồn chủ yếu. Một là “ngôn bản”, bao gồm truyền ngôn, truyền thuyết, giai thoại; hai là “văn bản”, gồm thư tịch, bi kí, văn khắc, gia phả, thần phả. Nguyễn Phong Nam gọi hai nguồn đó là yếu tố tiền thân: “tác phẩm truyền kì là kết quả của sự tiếp sức, bồi đắp, nâng cao những yếu tố tiền thân” [25; 97]. Truyện/chuyện kể dân gian chính là một yếu tố “tiền thân” quan trọng của truyền kì.
Khi so sánh “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi [4], [5] với các tập truyện truyền kì trung đại Việt Nam, chúng tôi phát hiện thấy hàng loạt câu 13 truyện truyền kì và câu chuyện cổ tích có nội dung không sai khác bao nhiêu. Hàng loạt câu chuyện cổ tích được Nguyễn Đổng Chi chú thích là lấy nguồn từ truyện truyền kì (truyện dân gian nhưng lấy nguồn từ truyện thành văn (?). (Phụ lục, Bảng 1. Ở đây, tác giả truyền kì trung đại Việt Nam đã sáng tác trên cơ sở “tiền thân” là truyện kể dân gian (Nguyễn Đổng Chi gọi là cổ tích) có yếu tố truyền kì.
Khi nào một truyện kể dân gian có yếu tố truyền kì thì mới được tác truyền kì để ý và viết lại. Cùng một nội dung như nhau nhưng ngụ ý của hai tác giả - tác giả dân gian và tác giả truyền kì - là khác nhau. Tác giả cổ tích kể chuyện nhằm giải thích nguồn gốc của một sự vật, hiện tượng nào đó trong tự nhiên và xã hội (nhiều câu chuyện cổ tích có nhan đề “Sự tích…” là vì vậy), tác giả truyền kì mục đích là nhằm kể một câu chuyện lạ, một chuyện kì ảo… mà họ “tin” là có thể xuất hiện đâu đó trên cuộc đời này. Đến lượt nhà văn nửa đầu thế kỉ XX, một mặt họ mô phỏng truyện truyền kì, một mặt họ mô phỏng những truyện/chuyện kể dân gian có yếu tố truyền kì.