CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHONG TOẢ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Một số vấn đề chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Khái niệm của biện pháp khẩn cấp tạm thời Quan hệ dân sự về bản chất là sự thỏa thuận thiện chí đôi bên cùng có lợi, mặc dù các bên đã thống nhất về ý chí, quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ, tuy nhiên vì một số lí do khách quan hoặc chủ quan mà trong quá trình thực hiện hợp đồng sẽ xảy ra tình trạng ít nhất một bên không còn thiện chí thực hiện theo những cam kết ban đầu dẫn đến xâm phạm đến quyền lợi của bên còn lại. Có rất nhiều cách thức để giải quyết tranh chấp như thương lượng, trọng tài, hòa giải hoặc khởi kiện.
Trong khi đó, như đã đề cập, bản chất của quan hệ dân sự là đề cao tính thỏa thuận của các bên, nên khi xảy ra tranh chấp, để tiết kiệm thời gian, tiền bạc, các bên trong quan hệ thường ưu tiên lựa chọn việc thương lượng để giải quyết tranh chấp. “Tuy nhiên, khi một bên đã không còn thiện chí thực hiện theo những thỏa thuận trong hợp đồng thì họ thường có xu hướng không tham gia vào quá trình thương lượng giải quyết tranh chấp hoặc không chấp nhận kết quả giải quyết tranh chấp”1. Do đó, trong số những phương thức giải quyết tranh chấp, khởi kiện ra Toà án sẽ được ưu tiên áp dụng hơn trong trường hợp các bên không tự mình giải quyết được. Nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, một trong các bên đương sự có khả năng thực hiện những hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xét xử, hiệu quả của hoạt động thi hành án nên quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015 đã được hình thành như là một phương thức cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình giải quyết vụ án.
1 Nguyễn Thị Ánh Hồng (2011), Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thực tiễn xét xử tại toà án Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 7 Theo Từ điển Luật học, biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự được hiểu là “biện pháp Toà án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc đảm bảo việc thi hành án”2. Ngoài ra, theo nghiên cứu của tác giả Phạm Duy Nghĩa thì “BPKCTT (Interim injunctive relief, Vorläufiger Rechtsschutz) được hiểu là một công đoạn tố tụng rút ngắn và đơn giản nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản tranh chấp hoặc các đảm bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong khi phiên tranh tụng chưa kết thúc”3. Như vậy biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể hiểu như sau: “Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp tố tụng do Toà án áp dụng khi đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có đơn yêu cầu hoặc do Toà án chủ động áp dụng trong những trường hợp pháp luật cho phép để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án”4.
Mặc dù không phải là khái niệm được quy định cụ thể trong BLTTDS năm 2015 tuy nhiên khái niệm này cũng đã chỉ rõ những đặc điểm cơ bản của biện pháp khẩn cấp tạm thời, cũng như mục đích của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Đặc điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời Ngay từ tên gọi của biện pháp đã cho thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời có hai đặc điểm chính nổi bật đó là tính khẩn cấp và tính tạm thời. Tính khẩn cấp 2 Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp và Nxb Từ điển Bách khoa, tr. 3 Phạm Duy Nghĩa (2010), “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 23, tr.
4 Nguyễn Thị Hoài Phương (Chủ biên), (2018), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr. 8 Trong từ điển tiếng Việt thì khẩn cấp có nghĩa là “cần được tiến hành, được giải quyết ngay, không chậm trễ. Có tính chất nghiêm trọng, đòi hỏi phải có ngay những biện pháp tích cực để đối phó, không cho phép chậm trễ”5.
Qua định nghĩa trên có thể xác định biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ được áp dụng trong trường hợp khẩn cấp, nếu Toà án không ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và thi hành ngay quyết định đó thì quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án sẽ bị xâm phạm nghiêm trọng. Ngay trong điều luật cũng thể hiện rõ rệt tính khẩn cấp của biện pháp khẩn cấp tạm thời, cụ thể ở Khoản 1 Điều 139 BLTTDS năm 2015: “Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay”. Với tính khẩn cấp này thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời dù được Thẩm phán hay Hội đồng xét xử ban hành, hay người bị áp dụng biện pháp không đồng ý thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn được cơ quan thi hành án dân sự thi hành ngay, nếu người bị áp dụng hoặc bên thứ ba có liên quan đến việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đồng ý thì có thể kháng cáo, kháng nghị chứ không được yêu cầu tạm ngưng việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, nói thêm về tính khẩn cấp, mặc dù hiện nay chưa có quy định pháp luật cụ thể như thế nào là khẩn cấp nhưng có thể làm rõ tính khẩn cấp qua vụ việc sau: Nguyên đơn là Công ty TNHH thương mại và dịch vụ THH (viết tắt là Công ty THH) khởi kiện công ty TNHH ATT.
Theo đó, giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập hợp đồng số 01THH-AT, Công ty THH cũng đã bàn giao hàng hóa là Dầu Fo theo đúng như trong hợp đồng mà Công ty ATT yêu cầu. Tuy nhiên, đã quá hạn thanh toán nhưng Công ty ATT không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên Công ty THH khởi kiện yêu cầu Toà án buộc Công ty ATT thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật với số tiền nợ gốc là: 147.726 đồng và tiền lãi quá hạn. Đồng thời để đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án cũng như thi hành án, nguyên đơn là Công ty THH còn nộp đơn yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong toả tài khoản tại ngân hàng” đối với số tài khoản của Công 5 “Từ điển Tiếng Việt”, https://www.de/~duc/Dict/, truy cập ngày 24/03/2022. Do đó, theo yêu cầu của nguyên đơn, Toà án đã ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2020/QĐ-BPKCTT ngày 15/06/2020 đối với số tài khoản của bị đơn cho đến khi được cơ quan thi hành án có thẩm quyền giải quyết6.
Qua vụ việc trên, có thể thấy, bởi vì bị đơn là Công ty ATT vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đồng thời giả sử nếu bị đơn muốn trốn tránh nghĩa vụ thanh toán thì với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, việc tẩu tán tiền trong tài khoản hoàn toàn có thể diễn ra chỉ trong vài giây. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của mình cũng như cho quá trình giải quyết vụ án, nên Công ty THH đã ngay lập tức yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong toả tài khoản ngân hàng để phòng ngừa cũng như ngăn chặn trong trường hợp bị đơn thực hiện hành vi tẩu tán tiền trong tài khoản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, tính khẩn cấp của biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm mục đích bảo vệ nhanh chóng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình khởi kiện cũng như đảm bảo hiệu quả của hoạt động tố tụng và thi hành án. Tính tạm thời Trong từ điển tiếng Việt thì tạm thời có nghĩa là “Chỉ có tính chất trong một thời gian ngắn trước mắt, không có tính chất lâu dài”7.
Tính tạm thời cho thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ không được áp dụng một cách lâu dài hay vĩnh viễn, nó chỉ được áp dụng trong một khoảng thời gian xác định. Bởi vì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên thực tế có thể gây thiệt hại cho quyền, lợi ích của người bị áp dụng và người có liên quan đến việc áp dụng, đồng thời, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ là biện pháp bảo đảm cho việc giải quyết vụ án và thi hành án, đây không là quyết định cuối cùng về kết quả giải quyết vụ án nên nếu căn cứ cho việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn trên thực tế thì biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể bị hủy bỏ, thay đổi theo yêu cầu của các chủ thể trong vụ án hoặc của Toà án. Căn cứ để 6 Bản án số 64/2020/KDTM-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. 7 “Từ điển Tiếng Việt”, https://www.de/~duc/Dict/, truy cập ngày 24/03/2022.
10 thay đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 136, Điều 137 BLTTDS năm 2015. Có thể làm rõ tính tạm thời của biện pháp khẩn cấp tạm thời qua ví dụ sau: Ngày 01/01/2018, Bà Nguyễn Đỗ Đoan Tr có cho vợ chồng ông Th, bà N vay số tiền 1.000đ thời hạn vay đến 01/3/2018, lãi suất thỏa thuận 2,5%, tuy nhiên đến hạn thì vợ chồng ông Th, bà N không trả được nợ. Do đó bà Tr khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Th, bà N phải trả số nợ số tiền gốc là 1.000đ, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Toà án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2018/QĐ-BPKCTT ngày 20/03/2018 phong toả tài sản là thửa đất số 794, tờ bản đồ số 27 tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng diện tích 686m2 của bà N.