Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT VÀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN KHÔNG DÙNGTIỂN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về thanh toán không dùng tiền mặt 1. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt “Thanh toán không dùng tiền mặt” là cách thức thanh toán tiền, hàng hóa, dịch vụ không có sự xuất hiện cảu tiền mặt mà được thực hiện bằng cách chuyển một số tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản người thụ hưởng, hoặc bằng cách bù trừ công nợ, mà không sử dụng đến tiền mặt thông qua vai trò của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán [23]. Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt Gọn nhẹ, tiền không ở dạng tiền mặt nên an toàn: Khối lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng đa dạng về chất lượng và tăng lên về khối lượng, hình thức TTKDTM sẽ hạn chế được những nhược điểm của thanh toán bằng tiền mặt khi mà việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt sẽ không an toàn cho cả người trả tiền và người nhận tiền đối với khối lượng hàng hóa lớn.
TTKDTM sẽ không phải kiểm đếm, bảo quản tiền và vận chuyển tiền mặt. Không thực hiện thao tác bằng tiền mặt: Trong TTKDTM, vật trung gian trao đổi không phải là tiền mặt theo kiểu Hàng – Tiền – Hàng mà chỉ xuất hiện dưới dạng tiền kế toán, tiền ghi sổ và được ghi chép trên chứng từ sổ sách kế toán. Thanh toán qua hệ thống tài khoản ngân hàng: Ngân hàng vừa là trung gian tổ chức vừa là trung gian thực hiện các khoản thanh toán. Chỉ có ngân hàng và một số trung gian thanh toán quản lý tài khoản tiền gửi của khách hàng mới được quyền trích nợ tài khoản để thực hiện thanh toán.
6 Có thể kiểm soát được thông tin giao dịch trên tài khoản: Thông qua sao kê tài khoản ngân hàng, khách hàng có thể theo dõi được lịch sử giao dịch của mình một cách dễ dàng. Thực hiện được giao dịch mọi lúc, mọi nơi: Chỉ cần có kết nối internet là khách hàng có thể thực hiện mọi khoản thanh toán cũng như theo dõi dòng tiền của mình một cách thuận tiện, dễ dàng. Tiết kiệm thời gian và chi phí: TTKDTM giúp cho khách hàng tiết kiệm được tối đa thời gian giao dịch cũng như chi phí về thời gian, về giá trị tiền khi mà mọi giao dịch thanh toán có thể thực hiện thành công chỉ trong vài phút thay vì việc phải đến tận nơi để mang theo tiền mặt trả tiền cho nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ [24]. Nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ phản ánh mối quan hệ kinh tế, pháp lý, do đó các bên tham gia thanh toán phải bảo đảm các nguyên tắc có tính pháp lý sau: Thứ nhất: Các chủ thể tham gia thanh toán đều phải mở tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (gồm tài khoản trả tiền, tài khoản của bên nhận tiền, tài khoản trung gian thanh toán) và được quyền lựa chọn tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để mở tài khoản.Mỗi giao dịch TTKDTM phải có ba bên tham gia gồm người trả tiền, người nhận tiền và trung gian thanh toán.Khi tiến hành thanh toán phải thực hiện thông qua tài khoản đã mở theo đúng quy định của ngân hàng và tổ chức làm dịch vụ thanh toán.
Trường hợp đồng tiền thanh toán là ngoại tệ thì phải tuân thủ quy chế quản lý ngoại hối của nhà nước. Thứ hai: Số tiền thanh toán phải dựa trên số lượng hàng hóa, dịch vụ giao dịch giữa người mua và người bán. Người bán phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng với lượng giá trị mà người mua 7 đã thanh toán. Nếu người nhận tiền là người bán thì cơ sở được nhận tiền là hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng.
Nếu người nhận là tổ chức tài chính thì cơ sở để được nhận tiền sẽ là quyết định phân phối vốn của cấp trên.Nếu người nhận tiền với tư cách là chủ nợ thì cơ sở nhận tiền sẽ là hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ. Thứ ba: Là trung gian thanh toán giữa người mua và người bán, ngân hàng và các tổ chức làm dịch vụ thanh toán phải thực hiện đúng vai trò trung gian thanh toán. Chỉ trích tiền từ tài khoản của chủ tài khoản chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng khi có lệnh của chủ tài khoản.Các trung gian thanh toán phải có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ khách hàng mở tài khoản, lựa chọn các phương tiện thanh toán phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, phương thức giao nhận hàng, vận chuyển hàng hoá. Tổ chức hạch toán luân chuyển chứng từ thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác và an toàn.
Nếu ngân hàng và các tổ chức làm dịch vụ thanh toán để chậm trễ hay hạch toán thiếu chính xác gây thiệt hại cho khách hàng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường cho khách hàng. Thứ tư: Các chứng từ thanh toán phải được lập theo mẫu quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và phù hợp với yêu cầu của Ngân hàng thương mại (NHTM) [24].Các chủ thể tham gia trong thanh toán không dùng tiền mặt Bên chuyển tiền: là người mua, người sử dụng dịch vụ, người nộp thuế, hay người có ý định chuyển nhượng một khoản tiền cho một người khác. Bên thụ hưởng: là người bán hàng, cung cấp dịch vụ hay người nhận tiền. Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt: Ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng liên doanh, Ngân hàng nước ngoài, Tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, công ty tài chính… Trong đó: 8 + Ngân hàng phục vụ bên mua: tức là ngân hàng nơi đơn vị mua mở tài khoản giao dịch.
+ Ngân hàng phục vụ bên bán: là ngân hàng nơi đơn vị bán mở tài khoản [39].Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt Cùng với sự phát triển chung của xã hội và của hệ thống ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt trở nên ngày càng quan trọng. Ngày nay thanh toán không dùng tiền mặt là một phần không thể tách rời trong hoạt động sản xuất lưu thông hàng hoá của các doanh nghiệp, cá nhân, các đoàn thể.[31] - Góp phần làm giảm lượng tiền mặt trong nền kinh tế, tiết kiệm được chi phí lưu thông cho xã hội- gắn liền với việc in tiền, huỷ tiền hư hỏng không còn đủ tiêu chuẩn lưu thông, bảo quản và kiểm đếm tiền mặt, chi phí chống tiền giả trong hệ thống ngân hàng. - Phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Một chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá được bắt đầu và kết thúc bằng thanh toán (mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả lương công nhân.
đầu vào, đến việc bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đầu ra). Do vậy tổ chức thanh toán nhanh gọn và chính xác vừa bảo đảm an toàn về vốn, vừa rút ngắn được chu kỳ sản xuất, tăng tốc độ luân chuyển vốn. Như vậy đứng ở tầm vi mô khâu thanh toán ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn, đến kết quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Xét ở tầm vĩ mô thanh toán không dùng tiền mặt diễn ra trong toàn bộ nền kinh tế, nếu như thanh toán được tiến hành trôi chảy sẽ tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá thông suốt, các hoạt động của nền kinh tế được tiến hành thuận lợi.
- Tạo nguồn vốn cho các ngân hàng thương mại. Để thực hiện thanh toán qua ngân hàng, các doanh nghiệp, các cá nhân phải mở tài khoản tiền gửi 9 thanh toán và gửi tiền vào ngân hàng.Trên tài khoản này phải duy trì một số dư nhất định để tiến hành việc chi trả.Việc trích nợ tài khoản này để thực hiện thanh toán sẽ đồng thời ghi có cho tài khoản thụ hưởng khác.Vì vậy trên toàn bộ tài khoản tiền gửi thanh toán luôn tồn tại một số dư nhất định.Số dư vốn tiền tệ nằm trên các tài khoản này tạo thành nguồn huy động, ngân hàng được phép sử dụng nguồn vốn này để mở rộng cung cấp tín dụng cho nền kinh tế (sau khi duy trì một tỷ lệ dự trữ nhất định để đảm bảo chi trả cho chủ tài khoản trong mọi trường hợp). - Thực hiện tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt sẽ đẩy nhanh việc tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, cung ứng vốn kịp thời phục vụ cho đầu tư phát triển. Ngược lại sự chậm trễ, ách tắc, không an toàn trong thanh toán sẽ làm cản trở sự phát triển và cùng với nó là sự trì trệ yếu kém của nền kinh tế.
-Thanh toán qua ngân hàng đã và đang trở thành công cụ cạnh tranh có hiệu quả của ngân hàng nhằm thu hút khách hàng đến với ngân hàng mình thể hiện trên hai khía cạnh: + Về dịch vụ ngân hàng: Mục đích của khách hàng gửi tiền vào ngân hàng không chỉ để hưởng lãi mà còn để mua các dịch vụ ngân hàng. Mục đích này dần trở thành mục đích chính của khách hàng khi thiết lập quan hệ với ngân hàng. Sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng vì vậy được đo bằng số lượng và chất lượng các dịch vụ ngân hàng trong đó có dịch vụ thanh toán. + Về chi phí ngân hàng: Lãi suất ngân hàng phải trả cho số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán là thấp, thậm chí ở một số nước người gửi tiền không được hưởng lãi trên số dư tiền gửi thanh toán.
Vì vậy ngân hàng có thể lợi dụng việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt như một giải pháp hữu hiệu để thay đổi cơ cấu nguồn vốn theo xu hướng tăng nguồn vốn chi phí thấp, giảm nguồn vốn chi phí cao. Ngân hàng sẽ có điều kiện hạ lãi suất cơ bản và 10 từ đó hạ lãi suất cho vay. Thông qua việc quản lý tình hình biến động về số dư trên tài khoản tiền gửi, ngân hàng còn thực hiện chức năng kiểm tra và giám sát tình hình hoạt động kinh doanh khả năng tài chính của các doanh nghiệp. Đây là cơ sở rất quan trọng để ngân hàng thực hiện nghiệp vụ tư vấn, đầu tư có hiệu quả [36].
Vai trò đối với quản lý vĩ mô của nhà nước: Ngân hàng hoạt động dựa trên hệ thống quy định, chính sách của Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và thanh toán. Vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước qua ngân hàng chỉ thực sự phát huy đầy đủ tác dụng khi phần lớn khối lượng thanh toán tập trung qua ngân hàng.