Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG PHÒNG NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG 1. Tổng quan nghiên cứu về bạo lực học đường 1. Nghiên cứu thực trạng bạo lực học đường BLHĐ là một vấn nạn chung, xảy ra ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới. Đây cũng là chủ đề mà nhiều học giả trên thế giới đang nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn.
Năm 2016 một cuộc khảo sát trên quy mô lớn được Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC - Centers for Disease Control and Prevention) tại Mỹ có tên “Hiểu biết về BLHĐ” (Underdtanding school vilolence). Nghiên cứu sử dụng khái niệm: BLHĐ là bạo lực của những thanh thiếu niên xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường từ nhà đến trường hoặc từ trường về nhà, trong các sự kiện do nhà trường tổ chức hoặc trong một sự kiện cụ thể nào đó mà nhà trường tổ chức. Một thanh thiếu niên có thể là nạn nhân, thủ phạm, hoặc là nhân chứng của BLHĐ. Nghiên cứu này cũng đã đưa ra những con số thống kê về tình trạng môi trường học đường với những hành vi đe dọa, hành vi bạo lực gây tử vong và không gây tử vong.
BLHĐ là một vấn đề lớn đối với sức khỏe cộng đồng và bạo lực là việc cố ý sử dụng vũ lực hoặc sức mạnh có khả năng gây tổn hại về thể chất hoặc tâm lý đối với những người khác, nhóm hoặc cộng đồng. Bạo lực thanh thiếu niên bao gồm các hành vi như bắt nạt, tát, hoặc đánh đập. có thể gây ra tổn hại về mặt tâm lý, tình cảm nhiều hơn tổn hại về thể chất. Các hình thức bạo lực khác như bạo lực ở các băng đảng và tấn công (có hoặc không có vũ khí) có thể dẫn đến những chấn thương nghiêm trọng về thể chất, thậm chí là gây tử vong.
Cũng theo kết quả nghiên cứu này có 5,9% HS mang theo một loại vũ khí (như súng, dao) vào trường học trong 30 ngày trước thời điểm điều tra. Tỷ lệ này ở nam lớn gấp ba lần nữ. Trong 12 tháng trước cuộc điều tra, 7,8% HS trung học được thông báo bị đe doạ hay bị thương tích bằng một loại vũ khí trong trường học ít nhất một lần, với tỷ lệ nam cao gấp hai lần nữ. Trong 12 tháng trước cuộc điều tra, 12,4% HS từng tham gia vào một vụ đánh nhau tại trường ít nhất một lần.
Tỷ lệ này, nam cũng cao gấp hai lần nữ. Trong 30 ngày trước cuộc điều tra, 5,5% HS được cảnh báo những nguy cơ không an toàn nên họ đã không tới trường ít nhất một ngày. Các tỷ lệ này ở nam và nữ 11 xấp xỉ bằng nhau. Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng, bạo lực thanh thiếu niên và BLHĐ có thể dẫn đến một loạt các hành vi tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe như sử dụng rượu, ma túy và tự tử.
Trầm cảm, lo âu, sợ hãi và nhiều vấn đề tâm lý khác cũng có thể là hậu quả của BLHĐ. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ của một thanh niên tham gia vào BLHĐ như: lịch sử của bạo lực; ma tuý, rượu, hoặc sử dụng thuốc lá; gia đình nghèo khó; trường học thiếu thốn; cộng đồng nghèo.Tuy nhiên, sự hiện diện của những yếu tố này không có nghĩa là một thanh thiếu niên nào cũng sẽ trở thành người phạm tội. Cũng theo nghiên cứu này đã đưa ra các chiến lược ngăn chặn và can thiệp, không để BLHĐ xảy ra ở 4 cấp độ: các chiến lược ngăn chặn ở cấp độ xã hội; các chiến lược trong trường học; chương trình ngăn chặn hướng tới cải thiện các quan hệ gia đình, chương trình ngăn chặn, can thiệp tập trung và các chiến lược cấp độ cá nhân. Tất cả các chương trình này được thực hiện qua 4 bước: (1) xác định vấn đề; (2) xác định các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ; (3) xây dựng và thử nghiệm các chiến lược phòng chống; (4) áp dụng rộng rãi [CDC, 2016].
Theo nghiên cứu mang tên “Khác biệt quốc gia- Đồng dạng toàn cầu” (National differences - Global uniformity) năm 2010 của hai nhà nghiên cứu: David Baker và Gerald Letendre (2010) tỷ lệ HS là nạn nhân của BLHĐ ít nhất một lần trong tháng thấp nhất là ở những nước như: Đan Mạch, Singapore, Thụy Sĩ (khoảng trên dưới 10%) và cao nhất là ở những nước Philippines, Roumania và Hungary (từ 70 đến 80%). Thống kê này chưa bao gồm những nước như Guatemala hay Ethiopia nơi mà BLHĐ đang được ghi nhận tăng lên đáng kể; và cả Việt Nam, nơi mà chúng ta sẽ bàn đến sau đây. Người ta ghi nhận chỉ có 15% HS Singapore cho biết có bạn bè từng là nạn nhân của BLHĐ, trong khi ở Hungary con số này lên tới 80%. Nghiên cứu của Glew GM (Khoa Tâm thần và khoa học hành vi, Đại học Washington School of Medicine, Mỹ) và các cộng sự tiến hành năm 2005 trên 3530 HS lớp ba, lớp bốn, lớp năm tại Mỹ qua đề tài “Bắt nạt, tâm lý xã hội điều chỉnh và kết quả học tập ở trường tiểu học” có mục tiêu xác định tỷ lệ bắt nạt trong trường tiểu học và mối liên quan của nó với nhà trường, thành tích học tập, hành động kỷ luật, và cảm giác của bản thân: cảm giác buồn, an toàn, và phụ thuộc.
Kết quả cho thấy: có 22% trẻ em được khảo sát đã tham gia vào việc bắt nạt hoặc như là một nạn nhân, bị bắt nạt, hoặc cả hai. Tác giả cho rằng: sự phổ biến của hành vi bắt nạt thường xuyên ở trẻ em trường tiểu học là rất đáng kể. Mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt và các vấn đề trong trường học cho thấy đây là một vấn đề nghiêm trọng đối với 12 các trường tiểu học nơi đây [Glew MG, 2005]. “Bắt nạt, bạo lực và hành vi nguy hiểm ở HS trung học Nam Phi” là tên một đề tài nghiên cứu về BLHĐ được Liang H (Cục trẻ em và vị thành niên tâm thần, Viện Tâm Thần, Vương quốc Anh) và cộng sự được tiến hành nghiên cứu ở 72 trường học ở Cape và Durban, Nam Phi năm 2007.
Nghiên cứu nhằm kiểm tra tỉ lệ của hành vi bắt nạt của 5074 HS vị thành niên đang học lớp 8 (tuổi trung bình 14,2 năm) và lớp 11 (tuổi trung bình 17,4 tuổi) ở 72 trường học ở Cape và Durban, Nam Phi và làm rõ mối liên quan giữa những hành vi này với mức độ bạo lực và các hành vi nguy hiểm ở thanh thiếu niên. Kết quả cho thấy: tham gia vào hành vi bắt nạt là một vấn đề phổ biến đối với trẻ em Nam Phi. Hành vi bắt nạt có thể được coi như một chỉ báo về các hành vi bạo lực, chống đối xã hội [LiangH & cộng sự, 2007]. Công trình nghiên cứu của Wang.J và cộng sự năm 2009 được tiến hành tại Mỹ với đề tài: “Bắt nạt trường học trong thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ: thể chất, bằng lời nói, quan hệ, và trên Internet” đã nghiên cứu 4 hình thức trong hành vi bắt nạt trường học ở nhóm thanh thiếu niên Mỹ và mối liên quan với các đặc điểm về mặt nhân học xã hội, hỗ trợ của cha mẹ và bạn bè.
Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tương ứng của việc bắt nạt người khác và bị bắt nạt ở trường ít nhất 1 lần trong 2 tháng qua là 20,8% về mặt vật chất, 53,6% về lời nói, 51,4% về mặt xã hội, hoặc 13,6% bằng điện tử. Các HS nam thường liên quan đến các hành vi bắt nạt về thể chất hoặc bằng lời nói, trong khi các nữ sinh lại có nguy cơ liên quan đến việc bắt nạt dựa trên các mối quan hệ. Những người Mỹ gốc Phi liên có liên quan đến các hành vi bắt nạt (về thể chất, bằng lời nói, hoặc qua mạng) nhưng lại ít bị trở thành nạn nhân (về lời nói hoặc các mối quan hệ). Việc hỗ trợ của cha mẹ ít có sự liên quan đến việc thực hiện các hình thức bắt nạt.
Bạn bè có liên quan nhiều hơn đến hành vi bắt nạt về thể chất, bằng lời nói, và quan hệ nhưng không liên quan đến hành vi bắt nạt trên mạng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc hỗ trợ của cha mẹ có thể giúp trẻ chống lại được các hình thức bắt nạn không đáng có [WangJ, 2009]. Theo các chuyên gia về phòng chống bắt nạt học đường, để đấu tranh hiệu quả với nạn này, vấn đề quan trọng nhất là phải chỉ ra cho các em HS nhận thấy rằng việc bắt nạt người khác là hành vi không thể chấp nhận được, và động viện những em khác chống lại hành động không hay này. Ngành giáo dục cần phải tiếp tục đưa ra những biện pháp can thiệp để ngăn chặn tình trạng bạo lực và ức hiếp giữa các HS.
Nếu để các em đơn độc đối phó thì tình trạng có thể trở nên tồi tệ hơn. Các biện pháp can thiệp thường có hiệu quả nhất khi được phối hợp toàn diện, giữa GV, ban 13 giám hiệu nhà trường, những người bảo vệ nhà trường và các bậc phụ huynh. Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu, các bài báo cáo khoa học liên quan đến BLHĐ của HS. Bài báo khoa học “BLHĐ: nguyên nhân và các biện pháp hạn chế” của tác giả Nguyễn Văn Lượt đã đi sâu tìm hiểu một số nguyên nhân tâm lý xã hội dẫn đến hành vi BLHĐ giữa HS với HS.
Các nguyên nhân cụ thể được đưa ra là do: quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình; sự khao khát khẳng định cái tôi của trẻ và ảnh hưởng của văn hóa và phương tiện truyền thồng. Nghiên cứu cũng đưa ra một số biện pháp nhằm hạn chế tình trạng BLHĐ. Song theo ông, đứng trước những hành vi bạo lực của trẻ, cha mẹ, thầy cô nên có thái độ bình tĩnh, ân cần chỉ bảo cho các em để các em dần dần nhận ra sự không đúng đắn và từ bỏ nó. Sự quát tháo, đánh đập, nhiếc móc hoặc trừng phạt chỉ làm tăng thêm những hành vi đó ở trẻ.
Giải pháp tận gốc của vấn đề là trẻ phải tự nhận ra và từ bỏ hành vi đó một cách tự nguyện [Nguyễn Văn Lượt, 2009]. Đề tài “Nguyên nhân dẫn đến BLHĐ tại trường trung học cơ sở Lê Lai- Quận 8- Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009” do Lê Thị Hồng Thắm, Tô Gia Kiên thực hiện.