phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính luận văn gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết về công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ. Nội dung chính của chƣơng này sẽ tập trung điểm lƣợc các nghiên cứu đi trƣớc có liên cũng nhƣ làm rõ các lý thuyết và những khái niệm chính quan đến 6 đề tài. Bên cạnh đó, các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em sống xa cha mẹ cũng sẽ đƣợc tác giả nhận diện và mô tả một cách chi tiết. Chƣơng 2: Kết quả nghiên cứu Trong chƣơng này, tác giả sẽ trình bày các kết quả của quá trình nghiên cứu, từ đặc điểm địa bàn nghiên cứu và đời sống hộ gia đình di cƣ lao động có con đang học tại trƣờng THCS Bình Tấn cho đến đặc điểm của các em HS trong các gia đình này và HS bỏ học cũng đƣợc phân tích để làm cơ sở đánh giá khó khăn, nhu cầu và những hoạt động mang tính CTXH đối với các em này.
Chƣơng 3: Tiến trình Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trƣờng THCS Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Tiến trình can thiệp CTXH nhóm với thân chủ và các kết quả đạt đƣợc sẽ đƣợc tác giả mô tả chi tiết ở chƣơng này cùng với việc đƣa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH nhóm với HS sống xa cha mẹ tại trƣờng THCS Bình Tấn. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI HỌC SINH SỐNG XA CHA MẸ Ngay khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã xác định các khái niệm và các vấn đề có liên quan cần phải đƣợc nắm rõ để thống nhất quan điểm nghiên cứu thông qua việc thao tác hóa các khái niệm chính yếu. Trƣớc hết, xin đƣợc trình bày về tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tiếp theo là các lý thuyết chính đƣợc áp dụng trong can thiệp. Kế đến là các khái niệm chính liên quan đến công tác xã hội nhóm và học sinh sống xa cha mẹ, sau cùng là đặc điểm tâm sinh lý của trẻ sống xa cha mẹ.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Ngay từ những ngày đầu xây dựng đất nƣớc, Đảng và Bác Hồ đã xác định giáo dục con ngƣời là nhiệm vụ trọng tâm trong việc đào tạo và phát triển nhân lực, phục vụ cho mục tiêu xây dựng và phát triển đất nƣớc. Trong thƣ gửi học sinh năm 1945, Bác viết “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [28]. Đặc biệt, từ khi Việt Nam kí kết Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em, vấn đề chăm sóc, giáo dục đối với trẻ ngày càng đƣợc quan tâm mạnh mẽ, thu hút sự vào cuộc của nhiều lĩnh vực khoa học. Để có cái nhìn tổng quan về các quan điểm nghiên cứu liên quan đến đề tài này, tôi xin điểm lƣợc lại các nghiên cứu về di cƣ, học sinh bỏ học, trẻ em sống xa cha mẹ, và CTXH nhóm nhƣ là những vấn đề then chốt làm nền tảng lí luận cho đề tài này.
Vấn đề di cƣ trong mối tƣơng quan với học sinh sống xa cha mẹ Theo Tổng cục thống kê (2016) nhận định: di cư nội địa có vai trò quan trọng tới biến động dân số và có quan hệ chặt chẽ với vấn đề phát triển kinh tế - xã hội - môi trường nhưng các thông tin chuyên sâu về vấn đề này đang còn 8 tương đối hạn chế (ít). Ngoài cuộc Điều tra di cƣ Việt Nam năm 2004, đến nay chƣa có cuộc điều tra nào mang tính đại diện quốc gia để đo các dạng di chuyển của dân số và gắn vấn đề di cƣ với các điều kiện KT-XH ở nơi đi và nơi đến [36]. Do vậy, trong phần này, tôi xin trình bày một số nghiên cứu sau: Nghiên cứu về “vấn đề lao động và việc làm vào cuối năm 2017” của Tổng cục thống kê vào cuối năm 2017 cho biết: cả nƣớc có gần 800.4 nghìn lao động thiếu việc làm và 1,1 triệu lao động thất nghiệp. Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn là 2,03%, cao hơn gần 3 lần so với thành thị (0,67%), ĐBSCL có tỷ lệ thiếu việc làm cao nhất (3,60%), bằng 2,3 lần so với tỷ lệ cả nƣớc.
Để ứng phó với vấn đề trên, nhiều ngƣời đã chọn di cƣ đến các thành phố lớn, nơi có nhiều khu công nghiệp để tìm việc [35]. Có thể thấy, các số liệu trên phần nào phản ánh mối liên hệ giữa vấn đề việc làm và di cƣ lao động ở khu vực ĐBSCL nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng, đồng thời qua đó cũng góp phần giải thích cho tình trạng ngày càng có nhiều học sinh sống xa cha mẹ ở các gia đình nông thôn của nƣớc ta hiện nay. Kết quả cuộc điều tra Di cƣ nội địa năm 2015 đã chỉ ra nhiều phát hiện quan trọng nhƣ: Đông Nam Bộ có tỷ lệ ngƣời nhập cƣ cao nhất (29,3%), trong đó 33,9% đến từ ĐBSCL, hơn 50% ngƣời di cƣ phải ở nhà thuê mƣợn và tỷ lệ nữ di cƣ là 52,4%. Đáng nói hơn, có đến 17,5% có con ở tuổi đến trƣờng đã cùng di cƣ, 13,4% con của họ bỏ học với các lý do nhƣ nhà nghèo, không thích học, phải đi làm phụ giúp gia đình, chi phí đi học tốn kém và thi trƣợt/học kém [36].
Kết quả trên đã phản ánh tình trạng di cƣ lao động ở khu vực ĐBSCL (có tỉnh Đồng Tháp) và những vấn đề học tập của con cái họ, trong đó đề cập đến các nguyên nhân bỏ học, chủ yếu là về kinh tế, học yếu và chán học. Nghiên cứu về “Tiếp cận An sinh xã hội của ngƣời lao động nhập cƣ” do tổ chức ActionAid thực hiện năm 2014 đã cho thấy những khó khăn trong tiếp cận ASXH của ngƣời lao động nhập cƣ và con cái của họ. Theo đó, các quyền cơ bản về chăm sóc y tế, đào tạo nghề, giáo dục dành cho ngƣời lao động nhập cƣ và con cái của họ vẫn chƣa đƣợc chú ý đúng mức. Hầu nhƣ họ không thể tiếp cận 9 các chính sách ASXH về giáo dục tại nơi nhập cƣ vì thƣờng không có hộ khẩu thƣờng trú [1].
Có thể nói, những rào cản trên đã góp phần hạn chế việc học tập của các em HS có cha mẹ di cƣ, điều này đồng nghĩa với việc các em phải chịu sống xa cha mẹ (ở lại quê nhà) nếu muốn tiếp tục việc học. Vấn đề này đã gợi mở cho chính quyền các cấp và nhà quản lý giáo dục cũng nhƣ CTXH cần quan tâm đến những khó khăn của họ từ đó thiết kế những mô hình can thiệp phù hợp, vận động chính sách để hỗ trợ cho nhóm trẻ trong các gia đình di cƣ lao động này. Các nghiên cứu về trẻ em bỏ học Luận án tiến sĩ “Các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của trẻ em vùng Tây Bắc hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hƣơng (2012) đã chỉ ra sự liên quan giữa cuộc sống gia đình và di cƣ của cha mẹ với vấn đề bỏ học của con cái nhƣ: (1) tỷ lệ HS bỏ học ở các gia đình nghèo đói cao hơn các gia đình có mức sống khá giả; (2) quá trình di cƣ liên tục dẫn đến mất ổn định về chỗ ở và khiến cho các em không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ giáo dục; (3) cha mẹ có trình độ học vấn cao có xu hứng quan tâm nhiều hơn đến việc học của con cái, đặc biệt ngƣời mẹ có học vấn càng cao thì tỷ lệ con bỏ học càng thấp [14]. Nhƣ vậy có thể thấy, tác giả đã chỉ ra tình trạng kinh tế của hộ gia đình, sự ổn định việc làm và trình độ học vấn, quan tâm của cha mẹ có ảnh hƣởng rất lớn đến việc học tập của các em.
Nếu gặp những khó khăn, thiếu hụt trong các vấn đề trên thì trẻ dễ chán học, bỏ học. Tuy nhiên, vấn đề di cƣ ở luận án trên chủ yếu đề cập nhóm trẻ di cƣ cùng cha mẹ, chƣa nói đến các trẻ em bị bỏ lại. Đề tài “nghiên cứu về nguyên nhân bỏ học của Trẻ em Việt Nam” của Đặng Thị Hải Thơ (2010) đã chỉ ra bốn nhóm nguyên nhân bỏ học của trẻ gồm: từ gia đình (kinh tế khó khăn, gia đình không hạnh phúc.); từ phía nhà trƣờng (chƣơng trình giáo dục không thiết thực, thiếu hấp dẫn…); từ phía xã hội (di cƣ ồ ạt, vai trò của các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức xã hội trong vấn đề giáo dục…); từ bản thân của học sinh (học yếu, không có thời gian học, sức khỏe kém…) [30]. Nhƣ vậy, tác giả đã chỉ ra vấn đề bỏ học có liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó 10 có gia đình không hạnh phúc, di cƣ, và học yếu, chán học.
Do vậy, chúng tôi xác định đây sẽ là một trong những điểm chính để theo dõi và thiết kế, thực hiện các hoạt động can thiệp đối với HS sống xa cha mẹ tại địa bàn nghiên cứu. Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu tình trạng bỏ học của trẻ em tại huyện Hòa Vang- Thành Phố Đà Nẵng” của tác giả Trịnh Thị Tố Trinh (2016) đã nêu ra bốn nhân tố tác động đến tình trạng trẻ em bỏ học gồm: nhân tố gia đình; từ bản thân của trẻ; từ phía nhà trƣờng và nhân tố tự nhiên, xã hội [33]. Trong đó tác giả nhấn mạnh gia đình không hạnh phúc (bạo hành, li hôn, li thân…) thì trẻ thƣờng ít có cơ hội học tập hơn những em khác. Đồng thời, sự ít quan tâm của giáo viên chủ nhiệm và chƣơng trình giáo dục ít phù hợp với tâm sinh lý của trẻ, đơn điệu, nghèo nàn ít hoạt động ngoại khóa, cũng đƣợc tác giả xem nhƣ là một trong những nhân tố làm cho trẻ muốn bỏ học.
Những phân tích trên của tác giả đã hàm ý muốn hạn chế tình trạng học sinh bỏ học thì cần phải phát huy đƣợc vai trò, chức năng vốn có của gia đình cũng nhƣ sự quan tâm của giáo viên đối với các em và đồng thời cần tăng cƣờng các hoạt động ngoại khóa để giảm bớt sự nhàm chán trong học tập.