Chương 1: Cơ sở lý luận về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên. Chương 2: Thực trạng công tác phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên (than) ở tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên (than) ở tỉnh Quảng Ninh. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN 1.
Các khái niệm công cụ 1. Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1. Những khái niệm về tham nhũng Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của [38].
Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) định nghĩa tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng. Theo nghĩa hẹp và là khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước [12]. Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu.
Theo Tổ chức minh bạch quốc tế, tham nhũng là hành vi của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân. Tham nhũng có thể nói là một trong những tệ nạn cổ xưa nhất của bộ máy nhà nước, ngay từ những hình thái nhà nước ban đầu nạn tham nhũng đã xuất hiện như một khuyết tật tất yếu của quyền lực, được sinh ra từ quyền lực và lại 7 bị chính quyền lực kiềm chế, kiểm soát. Xã hội càng văn minh, hiện đại, bộ máy nhà nước càng chuyên nghiệp thì tệ nạn tham nhũng càng diễn biến phức tạp, khó lường với mức độ nguy hiểm ngày càng lớn. Có thể thấy tham nhũng được định nghĩa có khác nhau dưới quan điểm của các tổ chức khác nhau song đều có những điểm chung nhất định, đó là tham nhũng là hành động vi phạm pháp luật, có liên hệ trực tiếp với yếu tố quyền lực, chức vụ và phục vụ lợi ích của cá nhân hoặc nhóm lợi ích.
Khái niệm về phòng, chống tham nhũng Khi xem xét, nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng, trước hết chúng ta phải dựa vào nhận thức chung về tham nhũng. Từ góc độ tiếp cận của khoa học luật, tham nhũng được biểu hiện ra là hành động dưới dạng hành vi. Từ đó có thể hiểu phòng, chống tham nhũng là hoạt động chống lại những hành vi vi phạm pháp luật nhằm trục lợi cá nhân. Đó là hoạt động ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính.
Như vậy, một cách tổng quát nhất “Phòng, chống tham nhũng là hoạt động phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng”. Khái niệm quản lý Quản lý là hoạt động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm hướng đến đạt được mục tiêu nhất định. Về bản chất hoạt động quản lý xuất hiện bên trong một tổ chức và chỉ khi có tổ chức mới có quản lý, hoạt động quản lý là nhu cầu tất yếu để tổ chức hoàn thiện mục tiêu đề ra. Hoạt động quản lý diễn ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, dưới nhiều cấp độ, tính chất, mục đích khác nhau.
Các yếu tố cấu thành hoạt động quản lý bao gồm: - Chủ thể quản lý 8 - Đối tượng quản lý - Khách thể quản lý Chủ thể quản lý sử dụng các công cụ, phương pháp cụ thể và đặc thù để tác động lên đối tượng quản lý, các công cụ đó có thể là quyền lực, pháp luật, chính sách, nội quy, quy chế…, tùy thuộc vào đặc điểm của đối tượng quản lý, tính chất của hoạt động quản lý mà chủ thể quản lý lựa chọn phương pháp phù hợp. Quản lý nhà nước về tài nguyên Quản lý nhà nước là hoạt động, tác động có tổ chức của nhà nước, cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền đối với các đối tượng quản lý thuộc mọi lĩnh vực của đời sống, với mục tiêu duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý nhà nước về tài nguyên là hoạt động quản lý của nhà nước sử dụng công cụ pháp luật và chính sách tác động vào vấn đề khai thác, bảo vệ, quy hoạch đối với tài nguyên trong đó có tài nguyên khoáng sản. Quản lý tài nguyên, khoáng sản bao gồm các hoạt động sau: - Hoạch định chiến lược, quy hoạch và chính sách về bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên khoáng sản và phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản.
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về khoáng sản. - Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép hoạt động khoáng sản; cho phép chuyển nhượng, để thừa kế quyền hoạt động khoáng sản, cho phép trả lại giấy phép hoạt động khoáng sản; đăng ký các hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản - Thẩm định, phê duyệt, đánh giá các đề án, báo cáo, thiết kế mỏ trong hoạt động khoáng sản. - Kiểm tra, thanh tra các hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản - Thực hiện các chính sách đối với nhân dân địa phương nơi có khoáng sản được khai thác và nơi có khoáng sản độc hại. - Thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên khoáng sản 9 - Tổ chức, lưu trữ, bảo vệ tài liệu và bí mật nhà nước về tài nguyên khoáng sản - Đào tạo cán bộ khoa học, cán bộ quản lý về khoáng sản; tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn thi hành pháp luật về tài nguyên, khoáng sản.
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản. - Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về hoạt động khoáng sản và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về khoáng sản. Đặc điểm, tính chất và các hành vi tham nhũng phổ biến trong quản lý tài nguyên khoáng sản 1. Đặc điểm, tính chất của tham nhũng Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc điểm cơ bản như sau: a) Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn.
Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó (Khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005) [12]. Nhìn chung, nhóm đối tượng này có đặc điểm đặc thù so với các nhóm đối tượng khác như: Họ thường là những người có quá trình công tác và cống hiến nên có nhiều kinh nghiệm; được đào tạo có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác nhau; là những người có quan hệ rộng và có uy tín xã hội nhất định và thậm chí có thế mạnh về kinh tế. Những đặc điểm này của chủ 10 thể hành vi tham nhũng chính là yếu tố gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xét xử hành vi tham nhũng. b) Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng.
Khi thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác [12]. Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng. Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng.
Ở đây có sự giao thoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng với các hành vi vi phạm pháp luật khác. c) Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng.
Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Như vậy, khi xử lý về hành vi tham nhũng, không bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt được lợi ích. Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tham nhũng chủ yếu dựa trên căn cứ xác định những lợi ích vật chất mà kẻ tham nhũng đạt được để từ đó quyết định mức độ xử lý.