CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VE PHONG CHONG THAM NHŨNG TRONG GIAO DAT, CHO THUÊ DAT THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm, hành vi tham nhũng và hệ lụy tham nhũng trong giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư vào mục đích thương mại 1. Khái niệm tham những trong giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư vào mục đích thương mại * Khái niệm giao đất, cho thuê đất “Giao đất” là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất. Giao đất có hai trường hợp là giao đất có thu tiền sử dụng đất và giao đất không thu tiền sử dụng đất.
“Cho thuê đất” là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất. Cho thuê đất có hai hình thức Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm và Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần. Như vậy, “giao đất, cho thuê đất” là hoạt động của Nhà nước mà người đại diện là người có chức vụ, quyền hạn trao quyền cho cá nhân hoặc tô chức có nhu cầu sử dụng đất. Nhà nước thông qua hoạt động giao đất, cho thuê đất để thu tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất hoặc thu lợi khác trong một số trường hợp.
* Khái niệm dự án đầu tư vào mục đích thương mại “Dự án đầu tư”: Xét về mặt hình thức, là một tập hỗ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch dé đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong 11 tương lai; Xét về mặt nội dung, là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bang viéc tao ra các kết qua cụ thé trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dung các nguồn lực xác định; Xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động dé tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế, xã hội trong một thời gian dài. “Dự án đầu tư” là một chuỗi các hoạt động liên kết được tạo ra nhằm đạt kết quả nhất định trong phạm vi ngân sách và thời gian xác định. Chủ đầu tư dự án đầu tư vào mục đích thương mại có thê là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cô phần hoặc tổ chức nhà nước. “Mục đích thương mại” là hành vi nhằm phát sinh lợi nhuận về kinh tế hoặc lợi ích khác.
“Dự án đâu tư vào mục dich thương mại” có nghĩa một chuỗi các hoạt động liên kết được chủ đầu tư tạo ra dựa trên nguồn lực đất đai nhằm đạt kết quả nhất định trong phạm vi kinh phí thực hiện và thời gian xác định nhằm vào phát sinh lợi nhuận về kinh tế hoặc lợi ích khác. * Khái niệm tham nhũng Tham nhũng là một hiện tượng xã hội trong đó những tô chức, cá nhân lợi dụng những ưu thế về chức vụ, quyền hạn của mình lợi dụng những sơ hở của pháp luật dé vụ lợi. Tham nhũng có thé diễn ra trong tat cả các lĩnh vực. Ở những quốc gia mà tham nhũng trở thành phô biến thì tham nhũng thường hình thành một hệ thống quyền lực tự bảo vệ vững chắc.
Mặc dù tồn tại từ lâu trong lịch sử và hiện nay được coi như là hiểm họa đối với rất nhiều quốc gia trên thé gidi, bat kê chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nhưng hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa nao là duy nhất và thống nhất trên toàn cầu về tham nhũng. Theo quan điểm của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC): Công ước UNCAC không đưa ra khái niệm cụ thé thé nào là tham nhũng, chỉ xác định các hành vi được coi là tham nhũng bao gồm: hối lộ, tham ô, biển 12 thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản của công chức, lợi dụng ảnh hưởng dé trục lợi; Theo quan điểm của Công ước chống tội phạm có tô chức xuyên quốc gia (CTOC): Công ước cũng không đưa ra định nghĩa thế nào là tham nhũng mà chỉ quy định nghĩa vụ tội phạm hóa các hành vi tham nhũng gồm các hành vi đưa hối lộ và nhận hối lộ. [1] Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại khoản 1 Điều 3 Luật PCTN năm 2018 quy định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Khoản 7 Điều 3 Luật PCTN năm 2018 tiếp tục quy định: “Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng”.
Điều ấy có nghĩa là, Nhà nước quy định: không phải trong mọi trường hợp người có chức vụ, quyền hạn có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn đề đạt được lợi ích đều là tham nhũng, chỉ khi nào mà mục đích của hành vi đó nhăm đạt được lợi ích không chính đáng thì hành vi đó mới được xem là tham nhũng. [2] Từ các cách hiểu trên về tham nhũng, trong phạm vi luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm tham nhũng dưới góc độ: Tham những là hành vi sử dụng quyên lực trải quy định nhằm vụ lợi. * Khái niệm tham nhũng trong giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư vào mục đích thương mại. Từ các khái niệm nêu trên có thé hiểu: tham những trong giao dat, cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư vào mục đích thương mai là hành vi cua người có chức vụ, quyên hạn, người có thẩm quyên liên quan đến các hoạt động giao đất, cho thuê đất đã lợi dụng chức vu, quyền han dé trục lợi.
Người có chức vụ, quyền hạn trong giao đất, cho thuê đất thông qua các dự án đầu tư vào mục đích thương mại đã thực hiện các hành vi vi phạm nhằm trục lợi cho bản thân, cho gia đình hoặc người thân. Các hành vi tham những trong giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án dau tư vào mục đích thương mai. Trong quá trình giao đất và cho thuê dat dé thực hiện dự án dau tư vào mục đích thương mại, các hành vi tham nhũng xuất hiện và gây ra hậu quả nghiêm trọng. Hành vi tham nhũng làm suy yếu tính minh bạch và công bằng, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và xã hội.
* Tiếp cận từ góc độ dạng thức hành vi tham nhũng Rất khó để có được một bức tranh đầy đủ và chính xác về các hành vi tham nhũng, mức độ tham nhũng đất đai nói chung và tham nhũng trong giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư vào mục đích thương mại nói riêng do bản chất tiềm ân của tham nhũng. Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy tham nhũng được thé hiện phổ biến là các hành vi cố tình vi phạm pháp luật dé vụ lợi. Tuy nhiên, trong các tình huống nghiên cứu, nhiều hành vi được xem là tham những nhưng lại không vi phạm pháp luật. Điều này gây ra một số khó khăn cho những nỗ lực hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm giảm thiêu khả năng lách luật để tư lợi.
Những liệt kê không đầy đủ các dạng thức tham nhũng trong lĩnh vực này ở phần tiếp theo sẽ là thực tiễn quý giá cho việc đánh giá thực trạng tham những trong giao dat, cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư vào mục đích thương mại ở Việt Nam hiện nay. [3] * Tiếp cận từ sự hình thành tham nhũng Sự hình thành tham nhũng trong giao đất, cho thuê đất được nhìn nhận dưới góc độ đến từ mối quan hệ giữa “quan chức và doanh nghiệp”. Tham nhũng nảy sinh khi cán bộ công chức (thường là các quan chức) và doanh nghiệp cầu kết nhằm trục lợi và chia trác lợi nhuận. Có dạng mỗi quan hệ đã được hình thành từ trước khi thực hiện dự án, khi đó, dự án được hình thành trên ý chí chủ quan của cả hai bên: quan chức và doanh nghiệp.
Có thể quan chức “bật đèn xanh” cho doanh nghiệp xây dựng, triển khai dự án đầu tư vào mục đích thương mại thuộc phạm vi quản lý 14 của quan chức. Như vậy, quan chức sẽ tạo điều kiện về mặt thủ tục, về cơ chế chính sách để doanh nghiệp thực hiện dự án thuận lợi. Với sự giúp sức đó, doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ việc có được đất ở vị trí “vàng” dé triển khai dự án nhưng chỉ phải đóng tiền sử dụng đất thấp, hoặc không phải đóng tiền sử dụng đất, hoặc đóng tiền thuê đất thấp, thập chí không mất tiền thuê đất. Dự án có thê được triển khai hoặc bỏ không có chủ đích.
Tuy nhiên, quan chức có thê được hưởng lợi nhiều từ sự “thỏa thuận ngầm” trên. Có dạng mối quan hệ hình thành sau khi dự án xuất hiện. Đó là khi doanh nghiệp có mong muốn thực hiện dự án tại một vị trí đất cụ thể. Lúc này, doanh nghiệp tìm đến quan chức có thâm quyền dé thé hiện mong muốn, việc “đi đêm” để dự án được thông qua và triển khai thuận lợi, bỏ qua những quy trình thủ tục thông thường hoặc bỏ qua một số điều kiện đã hình thành nên tham nhũng.
Có dạng thức địa phương cần kêu gọi nhà đầu tư thực hiện dự án thương mại có sử dụng đất, khi đó địa phương đi tìm nhà thầu, hoặc nhà thầu biết mong muốn của địa phương chủ động tìm đến. Tham nhũng xuất hiện trong mối quan hệ song hành khi hai bên cùng tìm đến nhau và cùng có ý chí dé thực hiện các thủ tục dé nhà đầu tư thuận lợi triển khai dự án với mức chi phí thấp nhất. Sự cấu kết này làm “vô hiệu hóa chính sách” hoặc tạo ra chính sách riêng cho “nhóm lợi ích”. Những hành vi đó kha phổ biến, đặc biệt là khi ranh giới giữa lợi ích công và lợi ích tư trở nên mờ nhạt, và khi các mối quan hệ giữa giới quan chức nhà nước và giới doanh nhân bị chỉ phối bởi lợi ích chung.