Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Hệ thống quan lại trong bộ máy nhà nước dưới thời Lê Thánh Tông và Sejong. Tình hình quan lại phạm tội dưới thời Lê Thánh Tông và Sejong.
Hình phạt đối với quan lại phạm tội trong hình luật thời Lê Thánh Tông và Sejong. Biện pháp, tác động trong phòng chống quan lại phạm tội dưới thời vua Lê Thánh Tông và Sejong. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊ N CỨU Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào so sánh chuyên sâu về chính sách phòng chống quan lại phạm tội dưới triều vua Lê Thánh Tông (Đại Việt) và triều vua Sejong (Joseon ) tại Việt Nam cũng như tại Hàn Quốc, dù không ít công trình nghiên cứu xung quanh liên quan đến chủ đề quan lại phạm tội dưới từng triều vua Lê Thánh Tông (Đại Việt) và Sejong (Joseon) đã được công bố. Dưới đây tác giả luận án sẽ phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề quan lại phạm tội dưới triều vua Lê Thánh Tông (Đại Viêt) và Sejong (Joseon) để có cơ sở nhận thức về những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.
Các nghiên cứu liên quan đến chế độ quan lại và phòng chống quan lại phạm tội thời Lê sơ 1. Nghiên cứu liên quan đến chế độ quan lại thời Lê sơ nói chung Ở Việt Nam, những nghiên cứu có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề chế độ quan lại thời Lê sơ đã có những thành quả bước đầu được công bố. Đầu thế kỷ XX, tác giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam sử lược (NXB. Văn học, Hà Nội, 2012) khi viết về thể chế nhà nước thời Lê Thánh Tông (Đại Việt) đã dành một nội dung nhỏ đề cập tới chế độ quan lại trong mục việc cai trị.
Tuy nhiên, do cuốn sách có tính chất thông sử, nội dung bao quát nhiều vấn đề của lịch sử Việt Nam xuyên suốt từ thời cổ đại đến khi người Pháp đặt ách cai trị ở Việt Nam nên vấn đề chế độ quan lại chỉ được nhắc đến một cách ngắn gọn và không được khảo cứu kĩ lưỡng. Trong những năm 60 của thế kỉ XX, một số nghiên cứu có liên quan đến thể chế nhà nước nói chung và chế độ quan lại dưới thời Lê sơ nói riêng đã được đề cập khái quát qua một số công trình nghiên cứu của giới sử học miền Nam và miền Bắc. Ở miền Bắc, các công trình nghiên cứu của Phan Huy Lê (1960, 1961) với Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập II và tập III (NXB. Giáo dục, Hà Nội) hay của Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Phan Quang (1977) với Lịch sử Việt Nam 1427-1858 (NXB.
Giáo dục, Hà Nội) đã có những khảo cứu giản lược về chính sách xây dựng đội ngũ quan lại và việc ban hành các bộ luật nhằm bảo vệ chế độ phong kiến dưới thời Lê sơ. Ở miền Nam công trình Tổ chức chính quyền trung ương dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497) của tác giả Lê Kim Ngân (1963) do Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn xuất bản chủ yếu mới tập trung vào tổ chức chính quyền ở cấp trung ương qua cải cách hành chính thời Lê Thánh Tông. Tác giả Lê Kim Ngân đã cung cấp rất chi tiết các thông tin bao gồm tên cơ quan, tên quan chức và cả số lượng quan lại trong 12 bộ máy hành chính trên cơ sở sử liệu gốc. Qua đó, đã tạo tiền đề để những học giả sau có thêm nguồn tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho việc nghiên cứu tổ chức hành chính dưới thời vua Lê Thánh Tông.
Thông qua kết quả nghiên cứu của Lê Kim Ngân, có thể hiểu rõ được hệ thống bộ máy hành chính và cả hệ thống quan lại dưới thời vua Lê Thánh Tông. Kết quả nghiên cứu này của Lê Kim Ngân đã được tác giả luận án tham khảo và công nhận trong nội dung chương 2. Từ những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, các nghiên cứu về quan chế từ thời Hậu Lê được đẩy mạnh. Với quan chế thời Hậu Lê, thông qua nhiều cuộc hội thảo cả về giai đoạn Lê sơ và Lê Trung Hưng, giới sử học và luật học cũng đã công bố nhiều công trình có liên quan về cải cách quan chế thời kì này, ví dụ như: Trương Hữu Quýnh (1992) với Công cuộc cải tổ và xây dựng nhà nước pháp quyền thời kỳ Lê Thánh Tông (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6); Lê Đức Tiết (1997) với Lê Thánh Tông – vị vua anh minh, nhà canh tân xuất sắc (NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội); Đặng Kim Ngọc (1997) với Chế độ đào tạo và tuyển dụng quan chức thời Lê sơ (1428 – 1527) (Luận án Tiến sĩ, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội) ; Bùi Huy Khiên (2011) với Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh (NXB Lao động, Hà Nội); Trần Thị Vinh (2012) với Thiết chế và phương thức tuyển dụng quan lại của chính quyền nhà nước trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII (NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội); Hoàng Thị Kim Quế (2013) với “Quan chế dưới triều vua Lê Thánh Tông và giá trị kế thừa trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay”, đăng trên Tạp chíkhoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 29; Nguyễn Thị Thu Hòa (2020) với Chế độ quan lại triều Lê sơ (NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội).
Các công trình nghiên cứu từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây đã tập trung tìm hiểu về các lĩnh vực giáo dục, đào tạo và tuyển chọn quan lại, cải cách và vận hành chế độ quan lại trên cơ sở các nghiên cứu đi trước. Đặc biệt là các nghiên cứu mang tính thực tiễn mới xuất hiện gần đây, tiêu biểu là nghiên cứu của Hoàng Thị Kim Quế (2013) đã đóng góp nhiều bài học kinh nghiệm có thể được áp dụng trong tình hình thực tế hiện nay. Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này được sự quan tâm không chỉ của giới sử học mà còn được tiếp cận dưới cả góc độ chính trị học, luật học.Một số công trình nghiên cứu rất có giá trị học thuật đã được công bố từ thập kỉ 90 của thế kỉ XX như của Phan Hữu Dật – Nguyễn Văn Khánh – Lâm Bá Nam – Vũ Văn Quân – Lê Ngọc Thắng (1994) với Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử 13 (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội) hay của Trương Hữu Quýnh (1995) với “Chế độ đào tạo và tuyển chọn quan chức ở nước ta thời phong kiến”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 1. Ở Hàn Quốc, với vai trò là một trong những nhà nghiên cứu tiêu biểu của Hàn Quốc về Việt Nam, tác giả Yu Insun (2013) đã viết lịch sử Việt Nam theo trình tự thời gian trong cuốn sách Lịch sử Việt Nam viết mới.
Trong công trình này, Yu Insun đã đánh giá triều Hậu Lê thực sự đã tiếp nhận các tư tưởng Nho giáo. Đặc biệt, ông đánh giá rằng các dự án khuyến học và biên soạn khác nhau trong thời kỳ Lê Thánh Tông đã củng cố thể chế quân chủ tập quyền và chế độ quan lại dựa trên hệ tư tưởng Nho giáo. Ngoài ra, cuốn sách Luật và gia đình ở Việt Nam trong thời cận đại của Yu Insun (2014) đã phân tích khá kĩ nội dung của Quốc triều hình luật và đưa ra các đặc điểm về chế độ gia đình và mối quan hệ xã hội ở khu vực miền Bắc Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII. Mặc dù nội dung cuốn sách không liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu của luận án nhưng công trình cũng có giá trị tham khảo nhất định khi đã phân loại khá kĩ các điều khoản mô phỏng Đại Minh luật và Đường luật của Trung Quốc cũng như các điều khoản riêng của Việt Nam, qua đó nêu ra đặc điểm của Quốc triều hình luật dưới thời Lê sơ.
Tuy không phải là nhà nghiên cứu thuần túy về lịch sử Việt Nam, học giả ngành luật Im Sang Hyeok (2017) đã nghiên cứu về Quốc triều hình luật và đã viết công trình “Tiếp nhận luật tại Việt Nam và đặc điểm của nó – Đánh giá lại Quốc triều hình luật”. Trong nghiên cứu này, ông đã nhấn mạnh bản sắc riêng của hình luật Việt Nam. Nếu mối quan tâm chính trong các bài nghiên cứu của Yu In Seon là những nội dung về hệ tư tưởng Nho giáo trở thành tư tưởng thống trị trong triều đình Hậu Lê và tính độc đáo, đặc trưng riêng của Quốc triều hình luật trong chính sách trị nước thì Im Sang Hyeok (2017) lại đặt giải thuyết rằng mặc dù Quốc triều hình luật chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, kế thừa một phần của Đường luật và Đại Minh luật nhưng vẫn có nét độc đáo và đặc trưng riêng biệt của Việt Nam. Các nghiên cứu về Quốc triều hình luật này đều ít nhiều có liên quan, phản ánh gián tiếp chế độ xử phạt quan lại nói riêng và quan chế thời Lê sơ nói chung.
Nghiên cứu liên quan đến quan lại phạm tội và phòng chống quan lại phạm tội dưới triều vua Lê Thánh Tông. Một hướng tiếp cận khác có tác dụng bổ trợ rất lớn cho vấn đề khảo cứu của tác giả luận án là nghiên cứu về chính sách sử dụng nhân tài. Nhà nghiên cứu Lê Thị Thanh Hòa đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về việc đào tạo và sử dụng quan lại trong lịch sử cùng với nhiều công trình khảo cứu về chính sách sử dụng nhân tài trong 14 lịch sử như: Lựa chọn và sử dụng nhân tài trong lịch sử (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1994); Nhà nước phong kiến Việt Nam với việc sử dụng các đại khoa học vị tiến sĩ (1075 – 1919) (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011). Trên cơ sở những khảo cứu chung về quan chế có tính chất đặt nền móng quan trọng để tìm hiểu về vấn đề nghiên cứu như trên, trong khoảng chục năm trở lại đây đã xuất hiện các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến chủ đề phòng chống tham nhũng trong lịch sử Việt Nam.
Những nghiên cứu này được đề cập rải rác qua một số đầu sách và bài viết như Bùi Xuân Đính (2005) với Những mẩu chuyện pháp luật Việt Nam thời phong kiến (NXB Tư pháp, Hà Nội).