Luận Văn Thạc Sĩ Về Phòng Chống Mua Bán Phụ Nữ và Trẻ Em Từ Góc Độ Quyền Con Người Tại Hải Phòng

Luận văn thạc sĩ phân tích vnu ls phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em tiếp cận từ góc độ quyền con người và thực tiễn tại, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

112
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

1.1.1. Khái niệm hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em

1.1.2. Đặc điểm của mua bán phụ nữ và trẻ em

1.2. PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

1.2.1. Khái niệm phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em

1.2.2. Mối quan hệ giữa phòng, chống mua bán phụ nữ - trẻ em và bảo đảm quyền con người

1.2.3. Công tác phòng ngừa mua bán phụ nữ và trẻ em

1.2.4. Công tác phát hiện, xử lý hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em

1.2.5. Công tác bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân hòa nhập cộng đồng

1.3. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VỀ PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

1.3.1. Hệ thống pháp luật quốc tế về phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em

1.3.2. Các điều ước khu vực và song phương về phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em

1.3.3. Pháp luật Việt Nam hiện hành về phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em

1.3.4. Cơ chế phòng chống mua bán người ở Việt Nam

1.4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

1.4.1. Kinh nghiệm phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em tại Vương quốc Anh

1.4.2. Kinh nghiệm phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em tại Thái Lan

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM Ở HẢI PHÒNG

2.1. KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1.1. Vị trí địa lý, vị trí địa chính trị

2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế, xã hội

2.2. THỰC TIỄN CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.2.1. Thực trạng nạn MBPNTE tại Hải Phòng

2.2.2. Công tác phòng ngừa hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em tại Hải Phòng

2.2.3. Công tác phát hiện, xử lý hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em tại Hải Phòng

2.2.4. Công tác bảo vệ, hỗ trợ các nạn nhân của mua bán phụ nữ và trẻ em tại Hải Phòng

2.2.5. Kết quả đạt được

2.2.6. Tồn tại, hạn chế

2.2.7. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

3.1. HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

3.2. TUYÊN TRUYỀN NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG

3.3. NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN LIÊN QUAN ĐẾN MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

3.4. TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ THÚC ĐẨY VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

3.5. GIẢI PHÁP ĐẶC THÙ RIÊNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

3.6. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em tại Hải Phòng

Phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay tại Hải Phòng. Tình hình tội phạm này đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người và sự phát triển bền vững của xã hội. Hải Phòng, với vị trí địa lý thuận lợi, trở thành điểm nóng trong hoạt động mua bán người. Việc hiểu rõ về tình hình và các biện pháp phòng chống là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

1.1. Tình hình mua bán phụ nữ và trẻ em tại Hải Phòng

Theo thống kê, Hải Phòng là một trong những địa phương có tỷ lệ nạn nhân mua bán phụ nữ và trẻ em cao. Nhiều trường hợp bị lừa đảo, dụ dỗ ra nước ngoài với hứa hẹn việc làm tốt nhưng thực chất là bị bóc lột sức lao động hoặc tình dục. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn để ngăn chặn tình trạng này.

1.2. Quyền con người và phòng chống mua bán người

Quyền con người là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em. Việc bảo vệ quyền lợi của nạn nhân không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là của toàn xã hội. Các chính sách cần được xây dựng dựa trên nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

II. Vấn đề và thách thức trong công tác phòng chống mua bán người

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các đối tượng phạm tội ngày càng tinh vi, khiến cho công tác phát hiện và xử lý gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, nhận thức của cộng đồng về vấn đề này còn hạn chế, dẫn đến việc không báo cáo kịp thời các hành vi vi phạm.

2.1. Những khó khăn trong việc phát hiện và xử lý tội phạm

Việc phát hiện và xử lý tội phạm mua bán người gặp nhiều khó khăn do tính chất phức tạp và tinh vi của các đối tượng. Hệ thống pháp luật hiện hành cũng chưa hoàn thiện, dẫn đến việc xử lý chưa nghiêm minh.

2.2. Nhận thức cộng đồng về phòng chống mua bán người

Nhận thức của cộng đồng về vấn đề mua bán phụ nữ và trẻ em còn hạn chế. Nhiều người vẫn chưa hiểu rõ về quyền lợi của mình và cách thức bảo vệ bản thân. Cần có các chương trình tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho người dân.

III. Phương pháp và giải pháp phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em, cần áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp đồng bộ. Các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ với nhau và với các tổ chức xã hội để triển khai các hoạt động phòng ngừa, phát hiện và hỗ trợ nạn nhân.

3.1. Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chức năng

Hợp tác giữa các cơ quan chức năng là rất quan trọng trong việc phòng chống mua bán người. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa công an, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội để nâng cao hiệu quả công tác này.

3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục

Tuyên truyền và giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em. Các chương trình giáo dục cần được triển khai rộng rãi, đặc biệt là tại các khu vực có nguy cơ cao.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Hải Phòng

Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em tại Hải Phòng đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại và hạn chế cần được khắc phục. Việc đánh giá thực tiễn sẽ giúp đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn trong tương lai.

4.1. Kết quả đạt được trong công tác phòng chống

Trong những năm qua, Hải Phòng đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em. Nhiều vụ án đã được phát hiện và xử lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền lợi của nạn nhân.

4.2. Tồn tại và hạn chế trong công tác thực tiễn

Mặc dù đã đạt được một số kết quả, nhưng công tác phòng chống vẫn còn nhiều tồn tại. Cần phải khắc phục những hạn chế này để nâng cao hiệu quả công tác trong tương lai.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong phòng chống mua bán người

Kết luận, công tác phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em tại Hải Phòng cần được tiếp tục đẩy mạnh. Cần có những chính sách và biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền lợi của nạn nhân và ngăn chặn tình trạng mua bán người. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng và tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chức năng.

5.1. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác

Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em. Các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ và có sự tham gia của cộng đồng.

5.2. Tương lai của công tác phòng chống mua bán người tại Hải Phòng

Tương lai của công tác phòng chống mua bán người tại Hải Phòng phụ thuộc vào sự quyết tâm của các cơ quan chức năng và sự tham gia của toàn xã hội. Cần có những bước đi cụ thể để đạt được mục tiêu bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em tiếp cận từ góc độ quyền con người và thực tiễn tại thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM 1. Khái niệm hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em Khi xã hội có sự phân hóa giàu nghèo, phân chia giai cấp, dẫn tới sự ra đời của nhà nước Chiếm hữu nô lệ thì con người đã bị coi là một loại hàng hóa quan trọng, được mua bán trao đổi một cách công khai. Con người đã trở thành một trong những loại tài nguyên quan trọng nhất, với tiềm năng không thể tính toán đã mang lại những khoản lợi nhuận khổng lồ.

Ngày nay, bất chấp các giá trị đạo đức hay những quy định mang tính pháp lý thì mua bán người vẫn đã và đang xảy ra ở khắp nơi trên thế giới. Theo Điều 3, Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị và trấn áp tội buôn bán người, đặc biệt phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước TOC (sau đây gọi tắt là nghị định thư Palermo) được thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2000, khái niệm "Buôn bán người” được hiểu như sau: (a) “Buôn bán người” là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người đang kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột sẽ bao gồm ít nhất việc bóc lột mại dâm hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy đi bộ phận cơ thể; (b) Việc một nạn nhân của buôn bán người chấp nhận sự bóc lột có chủ ý được nêu tại khoản (a) trên đây sẽ không được tính đến nếu bất kỳ một cách thức nào nêu trong khoản (a) đã được sử dụng; (c) Việc tuyển dụng, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là “buôn bán người” ngay cả khi việc này được thực hiện không cần dùng đến bất cứ hình thức nào được nói đến trong khoản (a) điều này; (d) “Trẻ em” có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi [28]. Tại điều 1 Luật trẻ em 2016 của Việt Nam quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi [42].

Tuy nhiên quy định như vậy là chưa phù hợp với các công ước và thông lệ quốc tế đặc biệt là công ước LHQ về quyền trẻ em (CRC) mà Việt Nam là thành viên. Do đó trong khuôn khổ luận văn này, trẻ em được hiểu là người dưới 18 tuổi. LPCMBN năm 2011 của Việt Nam không đưa ra khái niệm mua bán người mà tại Điều 3 chỉ quy định các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác hoặc để thực hiện hành vi đã quy định; cưỡng bức người khác thực hiện một trong các hành vi như đã quy định; môi giới để người khác thực hiện một trong các hành vi đã được nêu trên; trả thù, đe dọa trả thù nạn nhân, người làm chứng, người tố giác, người tố cáo, người thân thích của họ hoặc người ngăn chặn hành vi theo quy định; lợi dụng hoạt động phòng, chống mua bán người để trục lợi, thực hiện các hành vi trái pháp luật; cản trở việc tố giác, tố cáo, khai báo và xử lý hành vi quy định tại Điều này; kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân; tiết lộ thông tin về nạn nhân khi chưa có sự đồng ý của họ hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân; giả mạo là nạn nhân; hành vi khác vi phạm các quy định của Luật này [37, Điều 3]. Tại khoản 1 Điều 150 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 của Việt Nam (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) quy định: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này [50, Điều 150].

Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội MBN và Điều 151 về tội MBN dưới 16 tuổi của BLHS định nghĩa: Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây: a) Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; c) Chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; d) Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này [18, Điều 150, 151]. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có một khái niệm cụ thể, riêng biệt cho hành vi MBPNTE. Tuy nhiên có thể đưa ra nhận thức chung rằng: MBPNTE là hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, lừa dối hoặc thủ đoạn khác để tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao, tiếp nhận phụ nữ và trẻ em vì đạt được lợi ích vật chất, để tiến hành bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác. Đặc điểm của mua bán phụ nữ và trẻ em * Về nạn nhân của mua bán phụ nữ và trẻ em (đối tượng mua bán) Một số quốc gia đưa ra khái niệm nạn nhân bị buôn bán như: Luật Phòng, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chống buôn bán người năm 2005 của Sierra Leone quy định: "nạn nhân" có nghĩa là người đã phải gánh chịu thiệt hại, bao gồm thiệt hại về thể chất hoặc tinh thần, đau khổ về tâm lý hoặc tổn thất về kinh tế hoặc thiệt hại đáng kể về các quyền con người cơ bản của họ, do các hành vi bị coi là vi phạm theo quy định của Luật này; Luật Phòng, chống buôn bán người của Philippin quy định: Nạn nhân bị buôn bán: một người bị buôn bán bất chấp sự đồng thuận của anh ta hoặc cô ta về việc vận chuyển, chuyển giao, bán hoặc những hoạt động khác liên quan đến buôn bán người; Luật Phòng, chống buôn bán người của Myanma quy định: Nạn nhân bị buôn bán là người là đối tượng của hành vi buôn bán người; Luật về Phòng, chống buôn bán người của nước Cộng hoà Azerbaijan quy định: Nạn nhân của việc buôn bán người - một người chịu đau đớn hoặc có cơ sở để cho rằng họ phải chịu đau đớn từ việc buôn bán người [53, tr.

Theo tài liệu hướng dẫn về việc “Soạn thảo Luật chống buôn người” của cơ quan Chống Ma túy và Tội phạm LHQ thì: Nạn nhân là đối tượng bị xâm phạm bởi hành vi mua bán người và được các cơ quan chính phủ có thẩm quyền hay những tổ chức phi chính phủ (NGOs) hoạt động trong lĩnh vực phòng chống buôn người tin một cách hợp lý rằng họ là nạn nhân của nạn buôn người, bất kể lúc đó thủ phạm đã bị phát hiện, bắt giữ, truy tố và kết án chưa [55, tr. Ở đây, yếu tố chủ thể xác định nạn nhân bị mua bán được nhấn mạnh và không chỉ bó hẹp trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà được mở rộng sang các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực này. Việc mở rộng chủ thể như vậy phù hợp với yêu cầu nêu ở Điều 6 khoản 3 Nghị định thư Palermo, trong đó nêu rằng trong việc xác định nạn nhân bị buôn bán, các cơ quan nhà nước phải phối hợp với các tổ chức phi chính phủ. Với việc huy động sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ có chuyên môn, nguồn nhân lực chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm trên lĩnh vực PCMBN sẽ giúp dễ dàng phát hiện và tránh được tình trạng bỏ lọt nạn nhân bị mua bán.

Theo báo cáo về MBN người năm 2018 của UNODC thì hầu hết các nạn nhân được phát hiện là phụ nữ và có ngày càng nhiều hơn trẻ em gái bị phát hiện. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2016 trong số các nạn nhân được phát hiện nam giới chiếm 21%, phụ nữ chiếm 49%, trẻ em gái chiếm 23%, trẻ em trai chiếm 7% [77, tr.1: Tỉ lệ nạn nhân của MBN phân theo độ tuổi và giới tính năm 2016 (Nguồn: Jean-Luc Lemahieu, Angela Me (2018), Global Report on Trafficking in Persons 2018, UNODC, New York) Còn theo báo cáo của Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm của Chính phủ Việt Nam, từ năm 2012 – 2017, lực lượng chức năng đã tổ chức giải cứu và tiếp nhận khoảng 7500 người. Qua điều tra, rà soát cho thấy trên 90% nạn nhân bị mua bán là phụ nữ và trẻ em; trên 80% nạn nhân thuộc các dân tộc thiểu số, trình độ học vấn, nhận thức, tiếp cận thông tin ít hơn và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; hơn 70% nạn nhân làm nông nghiệp hoặc không có việc làm; 37,2% không biết chữ và khoảng 6,8% nạn nhân là người trẻ tuổi, học sinh, sinh viên [62]. Phụ nữ luôn là mục tiêu hàng đầu của tội phạm mua bán người bởi lẽ phụ nữ thường phải ở vị trí yếu thế khi tham gia vào đời sống kinh tế, văn hóa xã hội hay chính trị, bị phân biệt đối xử, chịu nhiều gánh nặng do thiên chức làm mẹ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ