mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đương sắp sửa” 42, tr. Ông là người dọn đường cho Thơ mới ra đời. Cái Tôi trữ tình trong Thơ mới Sự ra đời của Thơ mới không phải là ngẫu nhiên mà đó là kết quả của sự vận động và phát triển của văn hoá dân tộc trải qua bao chặng khai phá và tìm kiếm. Một thế hệ nghệ sĩ mới xuất hiện mang trong mình cả một hệ thống quan niệm thẩm mỹ mới với những phạm trù nghệ thuật mới.
Từ đó Thơ mới đã mở ra nhiều chân trời, nhiều tâm trạng, nhiều sắc thái mới, làm thay đổi cả quan niệm về nhiều điều xưa nay vốn đã được định hình trong đời sống dân tộc. Trước hết là quan niệm về con người và thế giới. Nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ đã nhận định: “Cảm hứng sáng tạo gắn liền với cá nhân tự ý thức, tự khẳng định đưa đến một bước ngoặt quyết định trong lịch sử thơ ca Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại. Thơ mới là thơ của cái Tôi” 28, tr.
Hoài Thanh, Hoài Chân cũng gọi thời đại của Thơ mới là “Thời đại chữ Tôi” “ với cái nghĩa tuyệt đối của nó”. Trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh, Hoài Chân viết: “Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân, chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình. Còn cá nhân, cái bản sắc cá nhân chìm đắm trong gia đình, hoà tan trong quốc gia như giọt nước trong biển cả”. Điều đó làm cho thơ ca trung đại nặng tính chất duy lý, giáo huấn.
Các nhà thơ cổ “ dẫu táo bạo 13 đến đâu cũng không một lần dám dùng chữ Tôi, để nói với mình, hay - thì cũng thế - với tất cả mọi người ”. Có nghĩa là họ không dám dùng quan điểm cá nhân, lập trường cá nhân, cái nhìn cá nhân để nhìn đời và nói chuyện với mọi người. Nhưng Thơ mới thì khác. Thơ mới đã dám coi cái Tôi cá nhân như một quan điểm, như một tư cách để nhìn đời và nói với mọi người.
Thơ mới đã thoát khỏi quan điểm duy lý, giáo huấn vốn là sự ràng buộc của cái chung truyền thống đối với mỗi cá nhân để giãi bày mọi bí mật của cõi lòng riêng tư, từ nỗi buồn , sự cô đơn đến những phút giây yếu đuối, thất vọng chán chường… Các nhà Thơ mới đã dám nói yêu cái mình yêu, ghét cái mình ghét. Họ dám nói nên những nỗi vui - buồn - yêu - ghét - giận - hờn - mộng - thực một cách độc lập và đầy chủ quan. Thơ mới lãng mạn đã “Khẳng định cái Tôi như một bản lĩnh tích cực trong cuộc sống, như một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật” 18, tr. Tuy nhiên Thơ mới là thơ của giai cấp tiểu tư sản, mà giai cấp này không có hệ tư tưởng độc lập.
Tư tưởng tiểu tư sản nằm trong hệ tư tưởng tư sản. Do đó ngay lập tức các nhà thơ chịu ảnh hưởng của giai cấp tư sản. Chủ nghĩa cá nhân - sản phẩm của tình trạng chiếm hữu cá nhân về quyền lợi, đã thâm nhập vào nếp sống và suy nghĩ không riêng ở giai cấp tiểu tư sản mà ở nhiều tầng lớp xã hội. Giai cấp tiểu tư sản trở thành kẻ phát ngôn trực tiếp hoặc gián tiếp cho hệ ý thức tư sản.
Họ hoặc bị say đắm với cái Tôi cá nhân, hoặc bị đày vào ốc đảo của sự cô đơn, mất đi mối liên hệ đồng cảm với cuộc sống bên ngoài. Do đó vô hình chung họ đã tạo ra một vực thẳm không thể vượt qua giữa cá nhân và xã hội. Cái Tôi trong Thơ mới nói riêng và văn học lãng mạn nói chung bế tắc trong sự đối lập với thực tại. Các nhà Thơ mới thu mình về trong vỏ cá nhân với nỗi buồn uỷ mị, chán chường.
Mỗi nhà thơ tự xây cho mình một thế giới riêng biệt, một hòn đảo chơi vơi: Ta là một, là riêng, là thứ nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta ( Xuân Diệu – Hi Mã Lạp Sơn) 14 Một thế giới hoàn toàn tách biệt với đời thường. Mọi sợi dây tình cảm, mọi liên hệ với những vấn đề trung tâm của cuộc sống đều bị cắt đứt. Đấy là vì nhà thơ tự ràng buộc, tự ngăn cách mình với cuộc sống chứ đâu phải cuộc đời phụ bạc với nhà thơ : Hồn đơn như chiếc đảo rời dặm biển Suốt một đời như núi đứng riêng tây. Xưa các nhà thơ trung đại luôn vươn tới sự hài hoà giữa con người với thiên nhiên, với cuộc sống.
Tuy cái Tôi trung đại chưa có môi trường xã hội để hoạt động nhưng nó cũng chưa có nhu cầu bức bách để tự bộc lộ mình như một cá thể tách khỏi xã hội. Nay cái Tôi ấy không còn nữa. Giờ là thời của cái Tôi cô đơn, buồn nản, chán chường. Và mỗi cái Tôi tự tìm thấy cho mình một lối thoát, một hoài vọng vào quá khứ, tôn giáo, hay vào những thế giới siêu hình.
Nhưng càng tìm càng lạc lối, càng thất vọng, cái Tôi lại càng cô đơn, bế tắc. Thế Lữ thoát lên tiên, say sưa du hồn mình và dẫn dắt người đọc vào cảnh tiên nga, mỹ ngọc vang dội lung linh. Nhưng tất cả chỉ như một làn gió lạnh đưa lại một ít nguôi quên, làm một thứ giải toả cho tâm hồn giữa vòng vây của biết bao lệ sầu ngang trái. Tiếng sáo thiên thai dội vào lòng nhà thơ một nỗi buồn hiu hắt của cái Tôi cô đơn : Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng Tiếng đưa hiu hắt bên lòng Buồn ơi ! xa vắng mênh mông là buồn… (Tiếng sáo thiên thai) Không chỉ thi sĩ mà chính người tiên cũng buồn, cũng mơ màng ngỡ tiếng sáo đang chở lòng buồn của mình dìu dặt lên khơi : Thiên thai thoảng gió mơ màng Ngọc Chân buồn tưởng tiếng lòng xa bay (Tiếng sáo thiên thai).
15 Ở cõi trần Thế Lữ lại càng buồn. Nỗi lòng của Thế Lữ là nỗi Nhớ rừng của con hổ bị giam cầm trong vườn bách thú : Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới … Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu Lưu Trọng Lư thì ngoảnh mặt lại với mọi sự đau khổ, hướng cái nhìn vào một thế giới mơ màng. Cái Tôi trong thơ Lưu Trọng Lư hầu như rất ít mối quan hệ với thực tại, mất khả năng nhận thức cuộc sống mà luôn luôn chìm đắm trong thế giới mộng tưởng. Trong thơ Lưu Trọng Lư tất cả các yếu tố màu sắc, đường nét, bóng dáng con người cho đến không gian, thời gian đều không được xác định mà bảng lảng trong màn sương của những giấc mộng.
Bởi vậy cái nhìn mênh mang xa vắng của Thế Lữ đến Lưu Trọng Lư đã thấm thía ngọt ngào và có sức lan toả lớn : Mưa chi mưa mãi! Buồn hết nửa đời xuân! Mộng vàng không kịp hái Mưa mãi mưa hoài (Mưa… mưa mãi) Lưu Trọng Lư đi giữa cuộc đời và trong mơ mộng như “Con nai vàng ngơ ngác”. Nhưng cuộc đời với những sự thật phũ phàng khiến ông nhiều lúc “Giật mình ta thấy mồ hôi lạnh / Mộng đẹp bên chăn đã biến rồi”. Giật mình - tỉnh mộng nhưng vẫn không tìm được hướng đi để rồi sau phút giật mình ấy nhà thơ lại chìm vào nỗi sầu trong mộng tưởng. Xuân Diệu được coi là người phát ngôn đầy đủ nhất cho tư tưởng cá nhân của phong trào Thơ mới.
Đọc thơ ông ta thấy một cái Tôi trữ tình nặng trĩu nỗi buồn cho dù ông là con người khát khao sự sống nhất trong các nhà Thơ mới. Xuân Diệu buồn khi nhìn ra rặng liễu đứng đìu hiu, buồn khi chiều buông lưới, 16 buồn khi thu đến, xuân về…Ta bắt gặp trong thơ ông nỗi buồn chung của cả một thế hệ về nhân tình thế thái cùng những cám cảnh thương tâm của những phận thi sĩ nghèo và bức tranh toàn cảnh ngột ngạt tù đọng không lối thoát của xã hội đương thời : Chúng ta nay trong cuộc sống ao tù Đốt điếu thuốc chiêu hồn sương quá khứ (Mơ xưa) Thi sĩ khư khư ôm trong mình nỗi “ sầu đơn vạn kiếp”, thu mình lại trong thế giới “ riêng tây”. Nhiều lúc nhà thơ tự gọi mình là “chàng sầu”, có lúc ông lại hoá thân vào con nai, con chim không tổ, núi non, hoặc người kỹ nữ. Cùng ngơ ngơ ngác ngác giữa đời nhưng “con nai vàng” của Lưu Trọng Lư còn bước đi để lại tiếng xào xạc còn “con nai chiều” của Xuân Diệu không thể cất nổi bước vì bị bủa vây trong “lưới chiều” : Tôi là con nai bị chiều đánh lưới Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối ( Khi chiều giăng lưới) Cùng ra đời với Thơ mới trong cảnh nước mất nhà tan, trong một xã hội có nhiều chuyện đau buồn nhưng cái Tôi trong thơ ca cách mạng là cái Tôi hoà hợp với cái Ta của quần chúng lao khổ.
Nói như Tố Hữu : Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời (Từ ấy) Còn cái Tôi Thơ mới lại rơi vào tình trạng cô đơn, lạc lõng “hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển” ( Huy Cận ) hay”không có chi bè bạn nổi cùng ta” ( Xuân Diệu ). Thực ra không phải đến Thơ mới lãng mạn mới buồn mà cái buồn đã triền miên day dứt trở đi, trở lại trong nhiều thế hệ thi ca. Các nhà nho như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công 17 Trứ, Nguyễn Khuyến đều không tránh được tâm trạng đau buồn và cô đơn. Chỉ có điều tuy đau buồn cô độc nhưng họ không bao giờ dao động, hoang mang.
Còn với Thơ mới đau buồn cô độc là tâm trạng của cái Tôi nhỏ bé, bơ vơ lạc lõng giữa cuộc đời. Tâm trạng ấy đã thấm sâu vào quan điểm thẩm mỹ của các nhà thơ. Huy Cận cho rằng “Cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn”( Kinh cầu tự ). Chế Lan Viên thì hết lời ca ngợi cái đẹp của hạt lệ: “Hạt lệ ! Những ngôi tinh lạc rơi từ một vòm trời luôn luôn khuya khoắt là bầu mắt thẳm xuống trần gian mãi mãi gió sương, là lòng đau bát ngát của con người” ( Lời tựa chung cho Vàng sao và Gai lửa).
Đau buồn và cô đơn đã trở thành thứ tâm bệnh chung của chủ nghĩa lãng mạn và là tình trạng phổ biến của cả một thế hệ thi nhân trong phong trào Thơ mới.