Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA CÔNG ĐOÀN VỚI CHÍNH QUYỀN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Hiện nay trên thế giới có 3 tổ chức công đoàn quốc tế: Liên hiệp Công đoàn thế giới (WFTU) thành lập 3/10/1945 đây là tổ chức của lao động thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Hiện nay, tổ chức này có 102 tổ chức công đoàn thành viên ở 74 nước với tổng số đoàn viên khoảng 407 triệu người. Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do (CFTU), thành lập vào năm 1949 tại Luân Đôn.
Hiện nay CFTU có khoảng 140 triệu thành đoàn viên thuộc 160 trung tâm công đoàn ở 120 nước trên thế giới. Liên hiệp Công đoàn thế giới (WCL) thành lập năm 1920 tại Hà Lan có khoảng 25 triệu đoàn viên ở 60 quốc gia [34]. Công đoàn Việt Nam là thành viên của tổ chức Liên hiệp Công đoàn Thế giới (WFTU). Trong thời gian qua, có một số nhà khoa học đã bố những công trình nghiên cứu liên quan đến việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền như phối hợp với chính quyền trong chăm lo đời sống cho cán bộ, giáo viên, phối hợp với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn,.
Tác giả Vũ Thị Thanh Tâm với nghiên cứu“Phối hợp giữa Công đoàn với Chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên” đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng phối hợp giữa Công đoàn với Chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn và đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp giữa Công đoàn với Chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn tại Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN. Luận văn mới chỉ nghiên cứu trong phạm vi của một trường đại học Sư phạm chứ chưa nghiên cứu trong phạm vi các trường đại học thuộc ĐHTN (một đại học vùng) [11]. Công trình của tác giả Phùng Văn Cao với đề tài“Phối hợp quản lý giữa Ban giám hiệu với tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình” đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt 5 động phối hợp giữa Ban giám hiệu và tổ chức công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên hiện nay và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Ban giám hiệu với tổ chức công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình [3]. Bài báo của tác giả Lương Thị Việt Hà với chủ đề “Biện pháp tăng cường phối hợp giữa Công đoàn với Nhà trường trong xã hội hóa giáo dục ở các trường Trung học phổ thông” đã đưa ra một số biện pháp tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa Công đoàn và nhà trường THPT trong xã hội hóa giáo dục (XHHGD), thống nhất mục tiêu, yêu cầu và nội dung XHHGD giữa CĐ với nhà trường; hình thành bộ máy phối hợp giữa CĐ với nhà trường; xác định rõ trách nhiệm của từng bên và hình thành cơ chế phối hợp giữa CĐ với nhà trường; phát huy vai trò của tổ chức CĐ ở các cấp, từng CĐ viên, CĐ tổ chuyên môn và CĐ trường; huy động sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội khác thông qua sự vận động, thuyết phục của tổ chức Công đoàn [9].
Các nghiên cứu tập trung phân tích, bàn luận đến việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong chăm lo đời sống cho cán bộ, giáo viên; quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ công đoàn; quản lý hoạt động giảng dạy; hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục của một tỉnh; quản lý hoạt động chuyên môn ở một trường đại học cụ thể nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Đại học thuộc một Đại học vùng như Đại học Thái Nguyên. Tuy nhiên, những công trình khoa học, bài báo của các nhà nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi mở quý báu để tác giả tiếp thu và hoàn thiện đề tài “Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Đại học thuộc Đại học Thái Nguyên”. Một số khái niệm có liên quan 1. Quản lý Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn,.
Do vậy, có nhiều cách định nghĩa về khái niệm quản lý. Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu nhiều góc độ tiếp cận để có những quan điểm khác nhau về khái niệm này. Dù tiếp cận ở góc độ nào đi chăng nữa, quản 6 lý vẫn phải dựa trên những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý. Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ ”quản lý” được định nghĩa là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.
Theo nghĩa chung nhất từ góc độ Tâm lý học, Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [5]. Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,. bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể.
Về khái niệm quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Quản lý là sự cộng tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức. Koontz và O Donnell cho rằng: Không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định. James Stiner và Stephen Robbins quan niệm: Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra [19].
Qua các định nghĩa trên, có thể thấy, tuy khác về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản. Như vậy có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra. 7 Hay nói cách khác: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Trong các nhà trường, nói đến quản lý là nói đến quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nhà trường được định nghĩa như sau: Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục”.
Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường giúp cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu, tính chất của nhà trường Việt Nam đó là hình thành phát triển nhân cách người học theo yêu cầu xã hội” [14]. Công đoàn Kể từ khi phát hành cuốn Lịch sử Chủ nghĩa Công đoàn (History of Trade Unionism) (1984) của Sidney và Beatrice Webb, quan điểm lịch sử rằng công đoàn là "một hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ". Có một định nghĩa hiện đại khác của Cục Thống kê Úc Đại Lợi rằng công đoàn là ". một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ bản là thương lượng về lương bổng và điều kiện thuê mướn cho các thành viên của nó".
Trong nghiên cứu lịch sử gần đây, Trade or Mystery (2001), Tiến sĩ Bob James trình bày rằng công đoàn là một phần của một phong trào rộng lớn hơn của các cộng đồng chung lợi ích, nó bao gồm cả các phường hội trung cổ, các hội Tam điểm, hội ái hữu Oddfellow, các hiệp hội bạn thợ và các hội kín khác [35]. Ở các nước trên thế giới, Công đoàn là tổ chức đại diện cho quyền, lợi ích của người lao động, Công đoàn cũng có thể tham gia vào các hoạt động chính trị hợp pháp để bảo vệ quyền, lợi ích của các thành viên trong tổ chức, Công đoàn là hiệp hội tự nguyện được hình thành để đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của các thành viên về kinh tế, chính trị và xã hội nhằm duy trì, cải thiện điều kiện làm việc và cuộc sống của họ. Công đoàn có thể đại diện người lao động thương lượng với chủ thuê mướn lao động 8 về lương bổng và các điều kiện làm việc; hoặc có thể tác động đến luật lệ có lợi cho toàn thể người lao động, họ có thể tiến hành tiến hành những chiến dịch chính trị, vận động hành lang hay hỗ trợ tài chính cho những cá nhân hay chính Đảng ứng cử vào các vị trí công quyền. Ở mỗi quốc gia, có thể có một tổ chức công đoàn thống nhất hoặc nhiều tổ chức công đoàn.
Ở Việt Nam hiện nay, chỉ có duy nhất một tổ chức Công đoàn, luật pháp không thừa nhận tính hợp pháp của bất kỳ tổ chức nào khác đại diện người lao động trong quan hệ lao động ngoài tổ chức Công đoàn.