CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG VEN BIỂN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM 1. Khái niệm, các đặc điểm cơ bản về người dân vùng ven biển 1. Khái niệm về người dân vùng ven biển Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì hoàn thiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đang hướng tới.
Chính vì thế, không thể để bất kỳ đối tượng nào bị “bỏ lại phía sau”, nhất là đối với những đối tượng là người yếu thế, những người có cuộc sống và hoàn cảnh khó khăn. Hơn nữa, việc phát triển kinh tế biển đảo được Đảng và Nhà nước đề ra Chiến lực phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển [5]”. Đối tượng là người dân vùng ven biển là những người sống và làm việc ở các khu vực gần bờ biển, đảo. Các khu vực này thường bao gồm những làng chài, thị trấn, hoặc thành phố ven biển, nơi tập trung dân cư nhằm cùng nhau phát triển kinh tế biển.
Hoạt động của họ thường có cuộc sống gắn liền với biển cả, bao gồm các hoạt động như đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản, làm muối, và các ngành công nghiệp liên quan đến biển. Những người dân vùng ven biển thường có những kiến thức và kỹ năng đặc biệt liên quan đến biển, như việc sử dụng tàu thuyền, biết đọc thời tiết biển, và các phương pháp bảo quản, chế biến hải sản. Đời sống của họ thường phụ thuộc nhiều vào tình trạng môi trường biển và những thay đổi khí hậu, do đó họ cũng thường xuyên đối mặt với những thách thức như bão lụt, nước biển dâng và ô nhiễm môi trường. Chính vì những khó khăn mà người dân vùng ven biển thường gặp phải nên nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ người dân vùng ven biển được Đảng và Nhà nước thường xuyên đề ra.
Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc 11 đẩy nâng cao nhận thức của người dân về các vấn đề xã hội đặc biệt là vấn đề chủ quyền biển đảo, phát triển kinh tế. Ngoài ra, người dân vùng ven biển bao gồm các đối tượng hoạt động, sinh sống, lao động tại vùng ven biển hoặc hải đảo. Những đối tượng này mang nhiều đặc điểm riêng biệt khác với những đối tượng khác như có kinh nghiệm đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản; có kinh nghiệm và kỹ thuật đi biển; các nghề khác liên quan đến biển. Chính vì những đặc điểm riêng biệt như vậy làm cho các hoạt động phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật diễn ra tương đối khác biệt so với những đối tượng khác.
Nội dung và phương thức phổ biến giáo dục pháp luật cho những đối tượng này cũng cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm đạt được hiệu quả cao nhất khi thực hiện. Đặc điểm cơ bản về người dân vùng ven biển Người dân sống ở vùng ven biển có một cuộc sống với những đặc điểm rất đặc trưng và phong phú. Họ phụ thuộc chủ yếu vào nguồn sống từ biển, như làm nghề đánh cá, nuôi trồng thủy sản, và khai thác các loại hải sản khác nhau. Cuộc sống của họ gắn bó mật thiết với biển cả, nơi mà nhịp sống diễn ra với sự thân thuộc và sự phụ thuộc mạnh mẽ vào các tài nguyên sinh vật biển.
Bên cạnh đó, với những điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt nên bản thân người dân vùng ven biển phải có những thay đổi nhằm thích nghi với điều kiện tự nhiên vùng biển. Đồng thời, vấn đề pháp luật mà họ thường quan tâm cũng bị ảnh hưởng với cuộc sống sinh hoạt như kiến thức pháp luật về biển đảo, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản; kiến thức pháp luật về ứng xử trên môi trường biển với quốc tế. Những vấn đề pháp luật này cần phải được chú trọng trong quá trình xây dựng nội dung tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật. Biển cả không chỉ mang lại nguồn sống mà còn là nguồn nguy cơ lớn, như bão táp, lũ lụt, và biến đổi khí hậu.
Người dân vùng ven biển thường phải tự bảo vệ và thích ứng với những biến đổi này, thể hiện sự khắt khe và quyết đoán trong cuộc sống hàng ngày. Chính những khắc nghiệt của cuộc sống tạo cho người dân vùng ven biển bản lĩnh vững vàng tham gia bám biển bảo vệ chủ quyền biển đảo. Người dân vùng ven biển không chỉ mang trong mình sứ mệnh phát triển kinh tế biển mà còn đóng vai trò lớn trong việc khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển. Chính vì đặc điểm này nên việc tuyên truyền chính 12 sách pháp luật, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế biển, môi trường biển, vấn đề chủ quyền biển đảo.
Không chỉ vậy, đặc điểm về văn hóa và truyền thống của người dân vùng ven biển rất đa dạng và phong phú. Đó là nơi tập trung các nét đặc trưng về văn hóa, từ các lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian đến ẩm thực địa phương. Những nét văn hóa này không chỉ là niềm tự hào của người dân mà còn là di sản văn hóa đặc biệt, góp phần làm nên sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam. Văn hoá truyền thống của người dân vùng ven biển thường gắn liền với môi trường biển, nhiều phong tục, tập quán và văn hoá truyền thống đều xuất phát từ cuộc sống sinh hoạt trên biển.
Nhiều lễ hội truyền thống như lễ Cầu Ngư (vùng Trung Bộ và Nam Trung Bộ); Hội đua thuyền (Cát Hải, Hải Phòng); Hội Đền Độc cước, Đền Bà Triệu (Sầm Sơn, Thanh Hóa), lễ hội đền Cuông, đền Cờn, lễ hội Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí, Hội lễ Khai Canh (huyện Yên Thành, Nghệ An); lễ hội Cầu ngư của ngư dân (Nghệ An); Hội lễ Nhượng Bạn (huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) [27]. Mỗi lễ hội truyền thống, văn hoá địa phương đều hướng tới việc mưa thuận gió hoà, cầu cho những chuyến ra khơi được thuận buồm xuôi gió. Bên cạnh đó, người dân vùng ven biển còn mang đặc điểm khác biệt so với những chủ thể khác là họ thường xuyên di chuyển giữa đất liền và biển đảo, không cố định thời gian ở đất liền. Thay vì sinh sống và làm việc trong một không gian xác định, họ thường di chuyển và điều chỉnh lịch trình dựa trên các yếu tố như mùa và điều kiện thời tiết.
Các hoạt động như đánh cá, nuôi trồng thủy sản, và khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật biển khiến họ phải tìm kiếm các vùng biển có nguồn lợi tối ưu, thích hợp với mùa và khả năng của họ. Thời gian họ sống và làm việc linh hoạt phụ thuộc vào thời gian họ tham gia đánh bắt thuỷ hải sản có thể thời gian sống trên biển lên tới hàng tháng sau đó trở về đất liền để tiêu thụ các nguồn lợi từ biển. Vì vậy, đặc điểm này ảnh hưởng khá lớn đến kế hoạch tuyên truyền, PBGDPL cho người dân vùng ven biển. Như vậy, những đặc điểm cơ bản của người dân vùng ven biển tác động đáng kể đến kế hoạch PBGDPL cho người dân vùng ven biển của lực lượng CSBVN.
Trước khi thực hiện hoạt động PBGDPL cho người dân vùng ven biển cần có kế hoạch chi tiết, nghiên cứu đầy đủ đặc tính về thời gian, lối sống, sinh hoạt của người dân nhằm đạt được 13 hiệu quả cao nhất trong hoạt động PBGDPL. Lực lượng CSBVN đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục cho người dân vùng ven biển. Lực lượng CSBVN có mức độ hiểu biết về người dân vùng ven biển khá nhiều, hiểu rõ về đặc điểm môi trường sống trên biển của người dân nên rất dễ để tiếp cận cũng như tuyên truyền, PBGDPL cho người dân vùng ven biển. Khái niệm, các đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân vùng ven biển của lực lượng Cảnh sát Biển Việt Nam 1.
Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật Hoạt động PBGDPL hiện nay đang trở thành một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và chú ý đến. Không chỉ vậy, hoạt động này cũng ngày càng khẳng định vai trò của mình trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong quá trình xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như hiện nay. Đời sống pháp luật là một quá trình trải qua nhiều bước và PBGDPL là bước đầu tiên trong hoạt động thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống xã hội. Đồng thời, đây còn là cầu nối giữa quá trình xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật.
Từ việc hiểu rõ, hiểu đúng về pháp luật sẽ giúp các chủ thể nâng cao được nhận thức bản thân, hạn chế được những hành vi vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết pháp luật. Khái niệm PBGDPL là sự kết hợp giữa hai khái niệm là “phổ biến pháp luật” và “giáo dục pháp luật” theo đó để có cái nhìn tổng quan nhất về PBGDPL thì cần có sự phân tích sâu về hai khái niệm trên. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Phổ biến là làm cho đông đảo người biết bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó” [21]. Vì vậy, dựa trên cách cắt nghĩa của từ phổ biến là sự truyền đạt và cung cấp thông tin nào đó cho một hoặc một nhóm đối tượng biết về thông tin đó.
Vì vậy, phổ biến pháp luật có thể được hiểu là việc truyền tải thông tin pháp luật cho đông đảo người biết đến bằng các cách thức trực tiếp hoặc gián tiếp khác nhau. Phổ biến pháp luật là “Hoạt động nhằm làm cho đối tượng hiểu biết các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế” [31]. Những thông tin pháp luật có thể là những văn bản pháp luật, quy định pháp 14 luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành với mục đích để toàn bộ người dân được hiểu, biết và tuân thủ theo các quy định pháp luật. Như vậy, phổ biến pháp luật là hoạt động mang tính xã hội, tác động đến nhiều đối tượng trong xã hội.