Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh già hóa dân số toàn cầu với hơn 1 tỷ người cao tuổi, điện ảnh đương đại ngày càng hướng ống kính vào đời sống tinh thần của thế hệ đi trước. Tại khu vực Đông Á, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng đã thúc đẩy sự phổ biến của mô hình gia đình hạt nhân, từng bước thay thế cấu trúc gia đình tam đại, tứ đại đồng đường truyền thống. Những biến chuyển sâu sắc này đặt người cao tuổi trước nhiều thách thức tâm lý và sự cô đơn xã hội. Thể loại phim tài liệu, với chức năng phản ánh hiện thực và tính nhân bản, trở thành phương tiện nghệ thuật đắc lực để ghi lại những chuyển dịch văn hóa đó.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận, lịch sử, phê bình Điện ảnh - Truyền hình của tác giả Ngô Quang Trí, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Hoàng Cẩm Giang tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội vào năm 2019, tập trung nghiên cứu thi pháp phim tài liệu về người già qua hai tác phẩm tiêu biểu: Mình ơi của Việt Nam ra mắt năm 2018 và Mình ơi đừng qua sông của Hàn Quốc phát hành năm 2014. Tác phẩm Mình ơi dài 27 phút đã tạo nên cơn sốt truyền thông với hơn 7.000.000 lượt xem và 160.000 lượt chia sẻ trực tuyến, trong khi Mình ơi đừng qua sông đạt mốc doanh thu 4,66 triệu USD cùng hơn 4,8 triệu lượt khán giả ra rạp, lập kỷ lục phim tài liệu độc lập ăn khách nhất lịch sử điện ảnh Hàn Quốc. Mục tiêu của nghiên cứu là đối chiếu phương thức tự sự, điểm nhìn trần thuật và ngôn ngữ tạo hình tại bối cảnh nông thôn Nghệ An, Tuyên Quang và vùng núi Gangwon trong giai đoạn 2013-2018, từ đó giải mã bản sắc văn hóa ứng xử và thi pháp thể loại của hai nền điện ảnh Á Đông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết tự sự học điện ảnh hiện đại của Manfred Jahn cùng công trình nền tảng của David Bordwell và Kristin Thompson về cấu trúc trần thuật đa phương tiện. Khung lý thuyết này phân định ranh giới giữa câu chuyện, tức toàn bộ chuỗi sự kiện được tiếp nhận qua suy đoán, và cốt truyện, tức những biến cố hiển hiện trực tiếp trên màn ảnh qua hệ thống 3 hồi kịch bản cổ điển. Đồng thời, tác giả kết hợp lý thuyết thi pháp phim tài liệu của Bill Nichols với 6 phương thức biểu đạt chính, đặc biệt đi sâu vào phương thức tài liệu quan sát và tài liệu giải thích. Bên cạnh đó, nền tảng lý thuyết nhân học văn hóa Nho giáo của Khổng Tử và học giả Trần Ngọc Vương được khai thác triệt để nhằm soi chiếu quan niệm chữ Hiếu, trật tự tôn ti gia đình và văn hóa ứng xử với tuổi già ở hai quốc gia Đông Á. Mô hình nghiên cứu tích hợp các khái niệm then chốt gồm: tự sự phi hư cấu, tính xác thực của dòng chảy hiện thực, điểm nhìn trần thuật và cấu trúc không - thời gian điện ảnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp của đề tài là 2 bản phim tài liệu nguyên bản gồm Mình ơi có thời lượng 27 phút và Mình ơi đừng qua sông có thời lượng 86 phút, kết hợp với nguồn dữ liệu thứ cấp gồm 52 công trình nghiên cứu chuyên khảo, giáo trình điện ảnh quốc tế và bài phê bình báo chí trong giai đoạn 2018-2019. Tác giả lựa chọn cỡ mẫu nghiên cứu gồm 2 tác phẩm điện ảnh và truyền hình tiêu biểu cho dòng phim tài liệu về người cao tuổi tại Việt Nam và Hàn Quốc. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích, căn cứ vào tính điển hình thẩm mỹ, mức độ thành công thương mại và sức lan tỏa xã hội với hàng triệu lượt tiếp cận công chúng.

Về phương pháp phân tích, luận văn sử dụng kết hợp phương pháp tự sự học điện ảnh, phương pháp so sánh liên văn hóa và phương pháp xã hội học nghệ thuật. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì phim tài liệu về người già mang tính đa chiều kích văn hóa; chỉ khi giải cấu trúc văn bản hình ảnh bằng tự sự học kết hợp đối chiếu bối cảnh xã hội học, nhà nghiên cứu mới có thể làm sáng tỏ sự tương đồng và dị biệt trong phong cách tác giả cũng như căn tính dân tộc được phản ánh trong tác phẩm. Toàn bộ quá trình thu thập, mã hóa phân cảnh và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong 12 tháng nghiên cứu chuyên sâu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự khác biệt rõ rệt về cấu trúc cốt truyện và thời gian tự sự. Phim Mình ơi của Việt Nam sử dụng kết cấu đan xen song hành giữa 2 tuyến nhân vật độc lập với tổng cộng 14 phân đoạn sự kiện, triệt tiêu trục thời gian tuyến tính để tạo nên một trường đoạn phẳng êm đềm trong hiện tại. Ngược lại, Mình ơi đừng qua sông của Hàn Quốc vận dụng cấu trúc 3 hồi kinh điển với 39 phân đoạn sự kiện trải dài suốt 15 tháng ghi hình qua 4 mùa tuần hoàn, tạo nên một chuỗi quan hệ nhân quả kịch tính về quy luật sinh - lão - bệnh - tử.

Thứ hai, mức độ can thiệp của người kể chuyện và phương thức trần thuật có sự phân hóa lớn. Phim tài liệu truyền hình Việt Nam dành khoảng 30% thời lượng cho lời bình định hướng và phỏng vấn trực tiếp nhằm tôn vinh nghĩa vợ chồng son sắt, đạt 7.000.000 lượt xem số. Trong khi đó, tác phẩm của đạo diễn Jin Mo-young áp dụng 100% thủ pháp tài liệu quan sát trực tiếp, hoàn toàn loại bỏ lời bình can thiệp để máy quay đồng hành cùng nhân vật, mang lại doanh thu 4,66 triệu USD với hơn 4,8 triệu lượt vé bán ra tại rạp chiếu.

Thứ ba, bức tranh xã hội học về gia đình truyền thống được thể hiện trái ngược. Tác phẩm Việt Nam phản ánh sự gắn kết đại gia đình qua hình ảnh cụ Ngự có 12 người con và cụ Theo có 56 cháu chắt sum vầy ngày lễ mừng thọ. Ngược lại, tác phẩm Hàn Quốc phản ánh sự rạn vỡ của mô hình gia đình truyền thống dưới sức ép đô thị hóa, nơi hai cụ già 89 và 98 tuổi sống cô độc nơi sơn cước, thời gian con cái về thăm chiếm dưới 5% tổng thời lượng phim, bộc lộ khoảng trống tình cảm sâu sắc của người già hiện đại.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những khác biệt trên bắt nguồn từ đặc trưng thể loại và bối cảnh phát triển xã hội. Phim Mình ơi được sản xuất dưới dạng phim tài liệu truyền hình mang định hướng giáo dục và tôn vinh chuẩn mực đạo đức, trong khi Mình ơi đừng qua sông là tác phẩm điện ảnh độc lập chiếu rạp hướng đến trải nghiệm thẩm mỹ sâu sắc về thân phận con người. Cả hai quốc gia đều chia sẻ nền tảng Nho giáo coi trọng chữ Hiếu, nhưng tốc độ công nghiệp hóa vượt bậc tại Hàn Quốc đã đẩy người già vào tình thế tách biệt với nhịp sống thành thị nhanh hơn so với làng quê Việt Nam, nơi tình làng nghĩa xóm vẫn che chở cho tuổi già.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương thích với nhận định của Bill Nichols về sức mạnh lay động của tài liệu quan sát so với tài liệu minh họa. Để trực quan hóa các dữ liệu định tính, kết quả nghiên cứu có thể được biểu diễn thông qua Bảng ma trận đối sánh 39 phân cảnh kịch tính của tác phẩm Hàn Quốc với 14 phân đoạn của tác phẩm Việt Nam, kết hợp Biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ lệ 70% bối cảnh ngoại cảnh thiên nhiên và 30% bối cảnh nội thất sinh hoạt, làm rõ chiến lược thị giác của từng đạo diễn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới tư duy biên kịch và phương thức trần thuật phim tài liệu. Các nhà làm phim tài liệu trẻ và đạo diễn độc lập cần chủ động chuyển dịch từ lối làm phim phóng sự minh họa phụ thuộc lời bình sang phong cách tài liệu quan sát sáng tạo, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tác phẩm không dùng lời bình lên tối thiểu 40% trong các dự án sản xuất giai đoạn 2026-2028.

Thứ hai, kéo dài thời gian thâm nhập thực tế và ghi hình nhân vật. Các hãng phim tài liệu cùng Đài Truyền hình Quốc gia cần thiết lập quy trình sản xuất linh hoạt với thời gian bám sát thực địa tối thiểu từ 6 đến 15 tháng, nhằm ghi nhận trọn vẹn những biến chuyển tâm lý tự nhiên và biến cố đời thực, hướng tới mục tiêu gia tăng 50% chiều sâu cảm xúc cho tác phẩm.

Thứ three, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo học thuật. Các cơ sở đào tạo đại học chuyên ngành như Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh và Đại học Quốc gia cần tích hợp học phần Tự sự học điện ảnh và Phân tích phim liên văn hóa với thời lượng 45 đến 60 tiết học trong khung chương trình đào tạo giai đoạn 2026-2027.

Thứ tư, đa dạng hóa kênh phát hành và xúc tiến thương mại quốc tế. Cục Điện ảnh phối hợp cùng các nhà phát hành tư nhân xây dựng cơ chế đưa phim tài liệu độc lập ra hệ thống rạp chiếu thương mại và nền tảng số, phấn đấu nâng mức tăng trưởng doanh thu phát hành lên 30% và đảm bảo 100% tác phẩm tài liệu xuất sắc được tiếp cận các liên hoan phim quốc tế giai đoạn 2027-2029.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lý luận Điện ảnh, Báo chí và Truyền thông. Luận văn cung cấp khung lý thuyết tự sự học chuyên sâu cùng hơn 50 tài liệu tham khảo giá trị để áp dụng vào nghiên cứu thi pháp học và phân tích cấu trúc tác phẩm nghe nhìn.

Nhóm 2: Đạo diễn, biên kịch và nhà sản xuất phim tài liệu độc lập. Các nhà làm phim có thể ứng dụng 2 mô hình cấu trúc tự sự gồm kết cấu đan xen song hành và cấu trúc 3 hồi kịch bản để tối ưu hóa việc tổ chức tư liệu thực địa khi bấm máy.

Nhóm 3: Biên tập viên và đạo diễn tại các đài phát thanh - truyền hình trung ương và địa phương. Nghiên cứu mang lại bài học kinh nghiệm từ thời lượng 27 phút phát sóng đạt hơn 7.000.000 lượt xem, giúp nâng cao chất lượng phóng sự chân dung nhân vật.

Nhóm 4: Các nhà nghiên cứu văn hóa học, xã hội học và chuyên gia hoạch định chính sách an sinh xã hội. Dữ liệu luận văn mở ra góc nhìn thực chứng về biến đổi cấu trúc gia đình Á Đông, hỗ trợ xây dựng chương trình chăm sóc sức khỏe tinh thần cho hơn 13 triệu người cao tuổi tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Phương thức tự sự trong phim tài liệu khác biệt như thế nào so với phim truyện hư cấu? Tự sự trong phim tài liệu là quá trình sắp đặt sáng tạo các dữ kiện và con người có thật thành một cấu trúc kịch tính mà không làm sai lệch bản chất lịch sử. Khác với phim truyện sử dụng kịch bản hư cấu và diễn viên, phim tài liệu như tác phẩm của đạo diễn Jin Mo-young ghi nhận trực tiếp 39 phân cảnh đời thực để hiện thực tự bộc lộ sức mạnh truyền cảm.

Yếu tố nào giúp bộ phim tài liệu "Mình ơi đừng qua sông" đạt doanh thu kỷ lục 4,66 triệu USD? Thành công thương mại đột phá của tác phẩm bắt nguồn từ phương pháp tài liệu quan sát kiên trì suốt 15 tháng ghi hình, kết hợp ngôn ngữ hình ảnh duy mỹ và câu chuyện tình yêu 76 năm chân thực. Tác phẩm đã chạm vào nỗi trăn trở của hơn 4,8 triệu khán giả về sự cô đơn của tuổi già và quy luật chia ly sinh tử.

Phim tài liệu "Mình ơi" của Việt Nam đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật nào để tạo hiệu ứng mạng xã hội? Bộ phim dài 27 phút của Đài Truyền hình Việt Nam vận dụng kết cấu đan xen song hành giữa hai cặp vợ chồng gần 90 tuổi tại Nghệ An và Tuyên Quang. Tác phẩm tập trung ghi lại những lát cắt bình dị, ấm áp kết hợp lời chia sẻ mộc mạc, tạo nên sức hút lớn với hơn 7.000.000 lượt xem nhờ khơi gợi sự ngưỡng mộ về đạo lý vợ chồng thủy chung.

Hình tượng người cao tuổi trong hai bộ phim phản ánh sự chuyển dịch gia đình ra sao? Phim tài liệu Việt Nam thể hiện mô hình đại gia đình sum vầy với 12 người con và 56 cháu chắt, khẳng định giá trị bền vững của đạo hiếu và sự nâng đỡ từ xóm làng. Ngược lại, phim Hàn Quốc phản ánh sự tan rã của gia đình nhiều thế hệ dưới áp lực đô thị hóa, nơi người cao tuổi phải tự chăm sóc lẫn nhau trong không gian biệt lập.

Nhà làm phim tài liệu có được phép can thiệp hoặc dàn dựng bối cảnh trong tác phẩm không? Theo lý thuyết của Bill Nichols và David Bordwell, sự sắp đặt bối cảnh tối thiểu vẫn được chấp nhận nếu phục vụ mục đích chuyển tải sự thật sâu sắc hơn đến công chúng. Trong cả 2 bộ phim được khảo sát, các đạo diễn đều tôn trọng tối đa tính tự nhiên của đời sống nhân vật, tuyệt đối không sử dụng kịch bản dàn dựng giả tạo hay diễn viên đóng thế.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định tính tất yếu và giá trị học thuật của tự sự học điện ảnh trong việc phân tích, giải mã cấu trúc tác phẩm tài liệu phi hư cấu đương đại.
  • Công trình làm sáng tỏ sự tương phản thẩm mỹ giữa kết cấu phẳng song hành gồm 14 phân đoạn của Mình ơi và cấu trúc 3 hồi vận động gồm 39 phân cảnh của Mình ơi đừng qua sông.
  • Nghiên cứu khái quát bức tranh xã hội học sâu sắc về sự biến chuyển của mô hình gia đình truyền thống và văn hóa ứng xử với tuổi già tại Việt Nam và Hàn Quốc.
  • Đề tài đóng góp hệ thống tư liệu lý luận phong phú với hơn 50 tài liệu chuyên khảo quốc tế, tạo tiền đề vững chắc cho các nghiên cứu phê bình điện ảnh tiếp theo.
  • Khuyến nghị định hướng phát triển dòng phim tài liệu quan sát trực tiếp cho các nhà làm phim trong giai đoạn 2026-2030 nhằm nâng cao năng lực hội nhập thị trường điện ảnh toàn cầu.

Tác phẩm của Ngô Quang Trí là một đóng góp học thuật quan trọng, mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới mẻ giữa điện ảnh học, tự sự học và nhân học văn hóa. Các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên và nhà làm phim hãy khai thác sâu sắc các phát hiện của luận văn để kiến tạo những tác phẩm tài liệu giàu tính nghệ thuật, chạm tới trái tim của hàng triệu công chúng yêu điện ảnh.