CHƯƠNG 1: THỂ LOẠI PHIM TÀI LIỆU VÀ ĐỀ TÀI NGƯỜI CAO TUỔI TRONG ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC 1. Một số vấn đề lý luận về thể loại phim tài liệu: 1. Khái niệm phim tài liệu và tính đặc thù của phim tài liệu: Trên thực tế, trong lịch sử nghiên cứu điện ảnh, phim tài liệu chưa có một định nghĩa chính xác và duy nhất. Định nghĩa đầu tiên được khẳng định cho đến nay là của John Grierson – một nhà sáng lập của phong trào phim tài liệu Anh những năm 1930- rằng phim tài liệu là sự “sáng tạo giữa sự thật” (“creative treatment of actuality”)13.
Định nghĩa này vẫn được coi là mô hình định danh quen thuộc cho phim tài liệu đến tận ngày nay. Đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng của Mỹ Pare Lorentz có một định nghĩa đơn giản về phim tài liệu - là “một bộ phim nói về điều có thật và mang kịch tính” (“a factual film which is dramatic”)14. Nhà làm phim tài liệu Joris Iven cũng cho rằng: “Có nhiều cái giữa hai giai đoạn từ quay phim đến chiếu cho công chúng - phát triển, in tráng, dựng phim, viết lời bình, hiệu quả âm thanh, âm nhạc. Ở mỗi giai đoạn hiệu quả của cảnh quay có thể thay đổi nhưng nội dung cơ bản buộc phải giữ nguyên như ban đầu”15.
Ở giai đoạn hiện tại, các từ điển học thuật quốc tế đều chia sẻ chung quan điểm về phim tài liệu. Theo Từ điển bách khoa Britannica (Encyclopædia 13 John Grierson (1946), The First Principles of Documentary, Grierson on Documentary, HarperCollins Publishers, New York, pg. 14 Daniel Eagan (2009), America's Film Legacy: The Authoritative Guide to the Landmark Movies in the National Film Registry, Continuum Publisher, New York. 15 David Bordwell và Kristin Thompson (2016), Film Art: An Introduction, McGraw-Hill Education, New York.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Britannica), phim tài liệu là thể loại phim “định hình và diễn giải chất liệu có thật cho mục đích giáo dục hoặc giải trí”16. Cambridge Dictionary định nghĩa documentary là “một phim điện ảnh hoặc chương trình phát thanh – truyền hình cung cấp các dữ kiện có thực và thông tin về một đối tượng có thực”17 Tương tự, Oxford Dictionary nhận định phim tài liệu là “một phim hay một chương trình truyền hình - phát thanh cung cấp sự thật về một thứ gì đó”. Trong nước, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, phim tài liệu là phim mà “nguyên tắc hàng đầu là loại bỏ sự hư cấu, chất liệu của nó là những cảnh quay người thực, việc thực”18 [10, tr. Từ điển tiếng Việt cũng sử dụng lại cách định nghĩa này [11, tr.
Trong hệ thống tất cả các định nghĩa được sử dụng trong nghiên cứu tính đến hiện tại, chúng tôi chia sẻ hơn cả với ý kiến hàm súc, cô đọng của David Bordwell và Kristin Thompson trong cuốn Film Art: An Introduction (Dẫn nhập nghệ thuật điện ảnh): “Một cuốn phim tài liệu thường phản ánh các thông tin có thật về thế giới ngoài phim.” Hai tác giả cũng khẳng định “Phim tài liệu mang những tương phản một cách đặc trưng với phim hư cấu.”19 Rõ ràng, các định nghĩa đều có một điểm chung là khẳng định phim tài liệu nhất định phải dựa trên các dữ kiện và nhân vật có thật trong cuộc sống, cũng như mối liên hệ và sự đóng góp của thể loại này với sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực: “Phim tài liệu đã được thực hiện dưới hình thức này hay hình thức khác ở 16 Encyclopaedia Britannica (2019), Documentary film, https://www.com/art/documentary-film, Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 17 Cambridge Dictionary (2019), Documentary, https://dictionary.org/us/dictionary/english/documentary, Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 18 Từ điển Bách khoa Việt Nam (11, tr. 19 David Bordwell và Kristin Thompson (2016), Film Art: An Introduction, McGraw-Hill Education, New York.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hầu hết các quốc gia và đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực trong phim.”20 Và tất nhiên, đó cùng là đặc điểm thể hiện tính khu biệt của phim tài liệu (documetary) so với phim truyện (feature). Câu hỏi đặt ra là: những yếu tố cụ thể nào quyết định sự khu biệt này? Và làm thế nào để nhà làm phim tài liệu có thể dung hòa/kết hợp giữa “dữ kiện có thật” và “kịch tính” trong phim tài liệu? Trong bài viết “How can we define documentary” – một chương trong cuốn Introduction to Documentary (2017), Bill Nichols đã đưa ra “ba giả thiết thông thường về phim tài liệu” (“the three commonsense assumptions about documentary”) để cùng thảo luận về tính hợp lý của chúng [22, pg. Những thảo luận đa chiều này của ông có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của phim tài liệu ngày này. Thứ nhất, về nhận định “tất cả phim tài liệu là để nói về thực tế, về điều gì đó đã thực sự xảy ra”, Nichols cho rằng nó đúng, nhưng cần phải làm rõ ràng hơn và sâu sắc hơn ý tưởng này, nếu không muốn rơi vào chủ nghĩa tương đối22 [22, pg.
Theo ông, chính xác hơn là chúng ta phải nói, các bộ phim tài liệu nói về các tình huống/sự kiện thực tế và tôn vinh các sự kiện đã biết (NQT nhấn mạnh), chứ chúng không giới thiệu những cái mới và chưa thể kiểm chứng. Chúng nói trực tiếp về thế giới lịch sử hơn là đề cập theo lối ngụ ngôn về nó. Trong khi đó, 20 Encyclopaedia Britannica (2019), Documentary film, https://www.com/art/documentary-film, Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 21 Ở đây, Nichols dùng khái niệm “common senses” theo nghĩa là những hiểu biết/tri thức căn bản và được hầu hết mọi người thừa nhận, tức là ba nhận định về phim tài liệu mà ông đưa ra thảo luận, là những gì đã được đông đảo mọi người chấp nhận khi nhắc đến khái niệm “documentary”.
22 Bill Nichols (2017), Introduction to Documentary, Indiana University Press, Bloomington. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phim hư cấu lại xây dựng nên một thế giới mới dựa trên thế giới lịch sử, thông qua tính ước lệ và hàm ngụ của mình. Đây cũng chính là điểm phân biệt đầu tiên và dễ thấy nhất giữa phim tài liệu và phim truyện. Thứ hai, nhận định “các phim tài liệu đều nói về những người có thật” (“Documentaries are about real people”) cần được thay thế bằng ý tưởng chính xác hơn: phim tài liệu là phim về những người thật và họ không biểu diễn hoặc đóng vai trong phim như các diễn viên23.
Nói cách khác, trong phim tài liệu các nhân vật thể hiện hay “play” chính bản thân họ. Đương nhiên, họ có thể nhận thức sâu sắc về sự hiện diện của máy quay, mà trong các phỏng vấn hay các tương tác khác, họ hướng đến/nói với nó một cách trực tiếp (Hướng trực tiếp đến máy quay xảy ra khi các cá nhân nói chuyện trực diện với máy quay hoặc khán giả, điều này rất hiếm khi xảy ra trong phim hư cấu, nơi máy quay hoặt động như một người xem vô hình trong hầu hết thời gian). Thứ ba, với nhận định thông thường - “phim tài liệu kể những câu chuyện về những gì xảy ra trong thế giới thực”, Nichols tiếp tục đào sâu hơn vào bản chất phản ánh hiện thực của phim tài liệu: “Trong phạm vi một bộ phim tài liệu kể một câu chuyện, câu chuyện đó là sự đại diện đáng tin cậy cho những gì đã xảy ra hơn là sự diễn giàu tính tưởng tượng với những gì có thể xảy ra.”24 Ý tưởng về việc những gì chúng ta thấy và nghe cung cấp “một quan điểm đáng tin cậy về thực tế” cũng cho phép chúng ta thừa nhận rằng, đối với bất kỳ sự kiện nào, luôn có nhiều hơn một câu chuyện tồn tại để thể hiện và giải thích nó. Điều này cho phép chúng 23 Bill Nichols (2017), Introduction to Documentary, Indiana University Press, Bloomington.
24 Bill Nichols (2017), Introduction to Documentary, Indiana University Press, Bloomington. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ta suy nghĩ xa hơn, rõ ràng hơn về vai trò của cách kể chuyện (story telling) cũng như phong cách của mỗi đạo diễn trong phim tài liệu. Chia sẻ cùng một quan điểm với Bill Nichols, David Bordwell và Kristin Thompson cũng bàn khá kỹ về ranh giới phim tài liệu – phim hư cấu và những dấu hiệu để nhận biết mỗi thể loại, cũng như các phương thức khác nhau của phim tài liệu trong việc truyền tải thực tế, sự thực: chẳng hạn như tiêu đề của phim, tuyến nhân vật, địa điểm và sự kiện, thông tin liên quan, biểu đồ, bản đồ hoặc các hình ảnh minh hoạ, dàn dựng lại sự việc đã xảy ra v.v…25 Tuy nhiên, hai tác giả cũng nhấn mạnh rằng “việc dàn dựng một số cảnh trong phim tài liệu là hợp lý nếu nó phục vụ những mục đích quan trọng hơn khi truyền tải thông tin tới khán giả” và “một bộ phim có cảnh quay được dàn dựng không có nghĩa là nó được xếp vào vương quốc của thể loại phim hư cấu”26. Chính các quan niệm khác nhau về ranh giới phim hư cấu – phim tài liệu và về mức độ của việc dàn dựng các sự kiện trong phim, sẽ quyết định đến cách các nhà làm phim phân loại phim tài liệu.
Các cách phân loại phim tài liệu Trong Film Art, David Bordwell và Kristin Thompson phân chia phim tài liệu thành ba nhóm chính27: Thứ nhất, đó là phim tài liệu biên soạn được sản xuất bằng cách tập hợp các hình ảnh từ các nguồn tư liệu lưu trữ (The Atomic Cafe, Word is Out,. Phim Hồ Chí Minh – Chân dung một con người (Bùi Đình Hạc và Lê Mạnh Thích được thực hiện năm 1990) là một phim tiêu biểu của Việt Nam thuộc nhóm này. Thứ hai, đó là phim tài liệu quay trực tiếp có đặc trưng là ghi lại một sự kiện đang diễn ra với sự sắp xếp tối thiểu của nhà làm phim (hay cinéma - vérite, “phim 25 Bill Nichols (2017), Introduction to Documentary, Indiana University Press, Bloomington. 26 Bill Nichols (2017), Introduction to Documentary, Indiana University Press, Bloomington.
27 Bill Nichols (2017), Introduction to Documentary, Indiana University Press, Bloomington. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phản ánh sự thật”): ví dụ như Primary, Hoop Dreams… Các phim Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng (Nguyễn Thị Thắm, 2014) hay Đi tìm Phong (Trần Phương Thảo, 2015) là những phim tiêu biểu thuộc nhóm này. Thứ ba, đó là phim tài liệu về tự nhiên, ví dụ như Microcosmos, Galapogos…, thường sử dụng kính hiển vi để khám phá thế giới côn trùng.