CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về phê chuẩn của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm, ý nghĩa hoạt động phê chuẩn của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm hoạt động phê chuẩn của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Phê chuẩn là một từ gốc Hán Việt, theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý do Nhà xuất bản Văn hóa - thông tin Hà Nội xuất bản năm 1998 thì: “Phê chuẩn là xét duyệt, đồng ý cho thi hành” [23, tr.
Còn theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa thì “Phê chuẩn là xét duyệt để cho phép sử dụng hoặc thực hiện một văn bản, công việc, vấn đề hay lĩnh vực nào đó” [47, tr. Như vậy, có thể hiểu: Phê chuẩn là việc thực hiện quyền lực của cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền (thường là cấp trên) chấp thuận một hay nhiều đề nghị, yêu cầu của cấp phụ thuộc (thường là cấp dưới) được ghi vào văn bản có ký tên hoặc ký tên và đóng dấu, cho phép cấp phụ thuộc được thực hiện yêu cầu, đề nghị đó. Phê chuẩn thường xuất hiện trong quá trình giải quyết những công việc chung của các cơ quan nhà nước, khi cấp phụ thuộc (tổ chức cá nhân) có một số yêu cầu về công việc cần thiết mà điều kiện tiên quyết để thực hiện yêu cầu đó là sự chấp thuận của cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền, khi đó cấp phụ thuộc phải làm một văn bản như: tờ trình, đơn đề nghị, bản yêu cầu, dự thảo đề án, hiệp ước… gửi cho cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền. Trong văn bản cấp phụ thuộc nêu rõ yêu cầu, lý do, nội dung, mục đích và các điều kiện thực hiện.
Sau khi xem xét các văn bản đó, nếu thấy không trái với pháp luật và thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền phê vào văn bản đó yêu cầu của mình, có ký tên hoặc ký tên và đóng dấu cho phép hoặc không cho phép cấp phụ thuộc được thực hiện. Có thủ tục phê chuẩn toàn bộ hoặc chỉ phê chuẩn một hay một số yêu cầu đề nghị nào đó trong văn bản yêu cầu của cấp phụ thuộc. Phê chuẩn có giá trị pháp 9 lý nếu các yêu cầu, đề nghị của cấp phụ thuộc được cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền chấp thuận nằm trong các quy định của pháp luật hiện hành [30, tr. Các khái niệm trên về thuật ngữ “phê chuẩn” đều đề cập đến mối quan hệ quyền lực Nhà nước giữa cơ quan có thẩm quyền giám sát, thẩm tra với cơ quan có thẩm quyền thi hành những hoạt động nhất định do pháp luật quy định phải chịu sự giám sát, thẩm tra thông qua thủ tục phê chuẩn.
Buộc tội là một quá trình diễn ra trong suốt quá trình chứng minh tội phạm, chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội. Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi phải có một lực lượng chuyên môn về điều tra, thu thập toàn diện chứng cứ xác định tội phạm, người phạm tội hoặc để xác định người vô tội trong giai đoạn điều tra. Những hoạt động điều tra này chủ yếu do CQĐT và các ĐTV thực hiện. Tuy nhiên, quyền buộc tội phải do cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố, tức VKS thực hiện.
Trong phạm vi chức năng của mình, VKS có quyền và trách nhiệm quyết định cuối cùng về những vấn đề liên quan đến việc buộc tội một chủ thể nào đó; kiểm soát được việc phát hiện, điều tra tội phạm và xử lý tội phạm. VKS và CQĐT là các cơ quan THTT có chức năng khác nhau, phải được phân định nhiệm vụ, quyền hạn có tính độc lập tương đối nhằm đảm bảo từng cơ quan thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy vậy, luật TTHS không thể chia tách, cắt khúc quyền lực tư pháp để từ đó làm suy giảm khả năng đấu tranh PCTP. Mối quan hệ giữa VKS và CQĐT là mối quan hệ vừa chế ước, vừa phối hợp.
Đó chính là cội nguồn xuất phát của hoạt động phê chuẩn của VKS trong TTHS [39, tr. Trong luật TTHS có chủ thể THTT được độc lập thực hiện các hoạt động tố tụng nhưng có những chủ thể khi thực hiện một số hoạt động cần phải được sự phê chuẩn của chủ thể khác. Điều này xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể trong tố tụng là khác nhau. Chủ thể trong TTHS là các cơ quan được THTT: CQĐT, cơ quan công tố là VKS, cơ quan xét xử là Tòa án thực hiện các chức năng tương ứng là điều tra, truy tố, xét xử [41, tr.
Trong các cơ quan THTT tại Việt Nam, hệ thống CQĐT gồm nhiều tiểu hệ thống, với nhiều đầu mối quản lý đang tồn tại và hoạt động độc lập với nhau, được tổ chức trong lực lượng CAND (CSĐT, an ninh điều tra), trong Quân đội nhân dân 10 và VKSND tối cao [49, tr. Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi hệ thống mà tổ chức nhiều cấp. Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2020, mỗi địa phương cấp tỉnh có 2 CQĐT của Công an cấp tỉnh, cả nước 63 tỉnh, thành thì chỉ riêng CQĐT Công an cấp tỉnh ở cả nước ta có đến 126 CQĐT, chưa kể đến 705 Cơ quan CSĐT của Công an cấp huyện và hàng chục CQĐT trong Quân đội nhân dân. Mối quan hệ giữa các CQĐT thuộc hệ thống đều có sự độc lập và khép kín về phương diện, điều hành và lãnh đạo chuyên môn.
Hiện tại, ngoài BLTTHS 2015 và Luật Tổ chức CQĐT hình sự 2015 chưa có một văn bản pháp luật của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn chung cho hoạt động của cả bộ máy điều tra tố tụng, xác định rõ mối quan hệ giữa các CQĐT trong cùng ngạch cũng như khác ngạch, chỉ có những văn bản hướng dẫn riêng của cơ quan hành chính quản lý ngành đối với CQĐT thuộc ngành mình. Bên cạnh các CQĐT mang tính chuyên trách, pháp luật TTHS còn cho phép một số cơ quan hành chính cũng được quyền tham gia vào một số hoạt động điều tra: Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác thuộc lực lượng CAND (Quản lý xuất nhập cảnh; lực lượng An ninh khác; Cảnh sát giao thông; Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Cảnh sát PCTP về môi trường; An ninh mạng và PCTP sử dụng công nghệ cao; Trại giam) và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân Việt Nam (Trại giam, đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương) [27, tr. Theo quy định của pháp luật thì những cơ quan này gọi chung là các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đây là một phả hệ tổ chức phức tạp, xét cả về chiều dọc lẫn chiều ngang [27, tr.
BLTTHS quy định người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng được quyền tiến hành một số hoạt động TTHS như bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ hình sự, gia hạn tạm giữ hình sự. Đồng thời quy định việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và gia hạn tạm giữ đều phải có sự phê chuẩn của VKS. Việc áp dụng các lệnh, quyết định này của người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi các phương tiện đã rời khỏi sân bay, bến cảng là họ đã thực hiện hoạt động của CQĐT nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động TTHS. Như vậy, CQĐT là cơ quan được thành lập để thực hiện nhiệm vụ điều tra các VAHS, ngoài ra CQĐT còn bao gồm một số các cơ quan có 11 thẩm quyền tố tụng khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các chủ thể có thẩm quyền ra một số lệnh, quyết định TTHS trong tình huống khẩn cấp theo luật định.
Hoạt động điều tra của CQĐT là hoạt động thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ để tìm ra sự thật của vụ án, sự thật của hành vi phạm tội và xác định người đã thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra, để thu thập chứng cứ CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp tố tụng về điều tra. Song, nhiều biện pháp tố tụng có liên quan tới quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, như bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giam. phải có sự phê chuẩn của VKS.
Nếu VKS không phê chuẩn, thì các lệnh, quyết định đó không được thi hành. Trong trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do. Ngoài ra, BLTTHS còn quy định VKS phê chuẩn một số quyết định tố tụng của một số cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác. Xét về nội dung và tính chất của các quyết định của CQĐT phải được VKS xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn, thì có thể phân thành hai loại quyết định phê chuẩn: Quyết định phê chuẩn trước bao gồm xét phê chuẩn việc gia hạn tạm giữ; lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét và lệnh tạm giam bị can và quyết định phê chuẩn sau bao gồm: Phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; phê chuẩn quyết định KTBC, thay đổi, bổ sung quyết định KTBC.
Quyết định phê chuẩn trước là việc bắt buộc các quyết định của CQĐT phải được gửi cho VKS xem xét việc phê chuẩn hay không phê chuẩn trước khi thi hành. Nếu VKS phê chuẩn quyết định đó thì mới được thi hành, nếu VKS không phê chuẩn thì quyết định đó không có hiệu lực và không được thi hành. Các quyết định (lệnh) gia hạn tạm giữ, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét và lệnh tạm giam bị can do người có thẩm quyền (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT) quyết định và phải được gửi cùng các tài liệu có liên quan đến VKS cùng cấp để xét phê chuẩn và trong một thời hạn theo quy định của BLTTHS, VKS phải có trách nhiệm ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Quyết định phê chuẩn sau là việc phê chuẩn của VKS được tiến hành sau khi CQĐT đã ra quyết định và đã thi hành quyết định đó.
Đó là các trường hợp xét phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; quyết định KTBC [35, tr.