Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện dưới dạng Luận án Tiến sĩ Triết học với đề tài: "Phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay".

  • Tác giả: Trần Thị Minh.
  • Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mã số: 62 22 80 05).
  • Cơ sở đào tạo: Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng Giảng viên Lý luận Chính trị – Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Văn Phòng và PGS.TS. Dương Minh Đức.
  • Năm bảo vệ: 2012.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo tác giả luận án, văn hóa giữ vị trí trung tâm, là nguồn lực nội sinh và điều kiện thiết yếu cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Sau 25 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đạt được, việc phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần xã hội ở Việt Nam bộc lộ nhiều bất cập. Mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tác động tiêu cực, làm nảy sinh các hiện tượng phi văn hóa, phản văn hóa, đe dọa các giá trị đạo đức và bản sắc dân tộc. Đồng thời, xuất hiện các mâu thuẫn giữa yêu cầu xây dựng văn hóa với sự thiếu thốn, không đồng bộ về cơ sở vật chất kỹ thuật, cũng như mâu thuẫn giữa yêu cầu đồng thuận văn hóa với sự phân hóa về nhận thức và mức sống trong nhân dân. Việc nghiên cứu có hệ thống dưới góc độ triết học về văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi cấp thiết về cả lý luận và thực tiễn.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích: Từ việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, luận án xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển này trong giai đoạn hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích một số vấn đề lý luận chung về phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    2. Phân tích, đánh giá thực trạng và chỉ ra những vấn đề, mâu thuẫn đặt ra từ thực tiễn phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội ở Việt Nam thời gian qua.
    3. Luận chứng hệ thống phương hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội tại Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự vận dụng các quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn khảo sát ở lĩnh vực văn hóa tinh thần, tập trung vào năm nội dung cốt lõi: (1) Tư tưởng; (2) Đạo đức, lối sống; (3) Giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ; (4) Văn học nghệ thuật; (5) Thông tin đại chúng. Phạm vi không gian là thực tiễn Việt Nam trong tiến trình đổi mới kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dữ liệu và khảo sát tập trung từ giai đoạn đổi mới đến năm 2011–2012.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung chính:

Các công trình nghiên cứu quốc tế

Về tư tưởng kinh điển Mác - Lênin đối với văn hóa, luận án điểm lại các công trình như "Lênin và văn hoá xã hội chủ nghĩa" của Ri-u-xi-cốp, "Mác, Ăng-ghen, Lênin và văn học nghệ thuật" của Giăng Phêrêvin. Các tác phẩm này khái quát quan điểm của các nhà kinh điển về văn hóa nghệ thuật và văn hóa xã hội chủ nghĩa, cung cấp cơ sở phương pháp luận nhưng chưa phản ánh đầy đủ bối cảnh kinh tế thị trường hiện đại.

Các công trình nghiên cứu trong nước

  1. Nhóm công trình lý luận nền tảng và văn hóa tổng quát:

    • Trường Chinh (1975) với "Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam";
    • Phạm Văn Đồng (1996) với "Văn hóa và đổi mới";
    • Phạm Minh Hạc (1996) với "Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp tinh hoa nhân loại";
    • Hồ Sĩ Quý (1999) với "Tìm hiểu về văn hóa và văn minh";
    • Vũ Khiêu (2000) với "Văn hóa Việt Nam – Xã hội và con người";
    • Nguyễn Duy Quý (2003) với "Phấn đấu vì một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Các công trình này đã phổ biến quan điểm mác-xít về văn hóa và luận giải vai trò của văn hóa đối với sự phát triển con người, xã hội Việt Nam.
  2. Nhóm bài viết, chuyên đề về đường lối văn hóa và kinh tế thị trường:

    • Hoàng Trinh (1996): "Vấn đề văn hóa và phát triển";
    • Đặng Hữu Toàn (2001): "Văn hóa – nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường";
    • Mai Thúc Luân: "Lênin và đường lối xây dựng nền văn hoá mới";
    • Nguyễn Đức Bình: "Mấy vấn đề lớn trong Nghị quyết Trung ương 5 về văn hoá" và "Suy nghĩ thêm về Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về văn hoá".
  3. Nhóm luận án tiến sĩ chuyên sâu:

    • Thái Thị Thu Hương: "Tư tưởng của Lênin về xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước";
    • Võ Văn Thắng: "Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong việc xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay";
    • Lê Hữu Ái: "Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về tính dân tộc của văn học nghệ thuật";
    • Nguyễn Hồng Sơn: "Quan hệ biện chứng giữa văn hoá và sự phát triển xã hội trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam".
  4. Nhóm bài viết trực tiếp bàn về luận điểm "Văn hóa là nền tảng tinh thần":

    • Đặng Quang Thành: "Phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội";
    • Lê Quý Đức: "Góp phần nhận thức luận điểm 'Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội'";
    • Phan Hồng Giang: "Để văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội";
    • Nguyễn Trần Quế: "Về 'Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng xã hội': Kinh nghiệm và bài học";
    • Mai Hải Oanh: "Về phát triển văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta".

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả nhận định: phần lớn các công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc luận giải từng mặt riêng lẻ (như văn học nghệ thuật, đạo đức, lối sống) hoặc khảo sát văn hóa nói chung dưới dạng các bài báo ngắn. Chưa có công trình chuyên sâu nào ở cấp độ luận án tiến sĩ tiếp cận một cách chỉnh thể, có hệ thống dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội đặt trong điều kiện vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Luận án được xây dựng để lấp đầy khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Nguyên lý triết học Mác - Lênin: Luận án dựa trên học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, quy luật biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trọng tâm là quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về nguồn gốc lao động của văn hóa, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội và văn hóa tinh thần, cũng như tác động trở lại của các nhân tố tinh thần đối với cơ sở kinh tế.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa: Tiếp cận định nghĩa văn hóa theo nghĩa rộng của Hồ Chí Minh (văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh vì lẽ sinh tồn và mục đích cuộc sống), các quan điểm về xây dựng đời sống mới và bồi dưỡng con người.
  • Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các nghị quyết định hình tư duy lý luận về văn hóa: Đề cương văn hóa năm 1943; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII (tháng 1/1993 - văn kiện lần đầu tiên xác định luận điểm "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội"); Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998); Nghị quyết Trung ương 10 khóa IX; Văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  1. Phương pháp tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Phân tích các thành tố của văn hóa tinh thần và mối liên kết hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành nền tảng tinh thần xã hội.
  2. Phương pháp lịch sử và lôgíc: Theo dõi tiến trình vận động của các quan niệm văn hóa và sự phát triển tư duy lý luận của Đảng qua các giai đoạn lịch sử.
  3. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các tài liệu lý luận, văn kiện và số liệu thực tế về thực trạng đời sống văn hóa.
  4. Phương pháp so sánh và khái quát hóa: Đối chiếu các quan điểm học thuật, so sánh tác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trường để rút ra các kết luận lý luận.
  5. Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp góc nhìn triết học với xã hội học, kinh tế chính trị học và văn hóa học trong việc xem xét mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị và văn hóa.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Các văn bản kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh Toàn tập.
  • Hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước.
  • Dữ liệu thống kê thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Giáo dục và Đào tạo, báo cáo của các cơ quan quản lý văn hóa và các kết quả điều tra xã hội học về thực trạng tư tưởng, đạo đức, lối sống, ngân sách chi cho văn hóa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Phát triển văn hoá với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Những vấn đề lý luận chung

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận từ các trường phái tư tưởng thế giới và chủ nghĩa Mác - Lênin, làm rõ nội hàm khái niệm và xác định tính tất yếu của phát triển văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

  • Khái niệm văn hóa và các cách tiếp cận: Luận án điểm lại tiến trình lịch sử khái niệm từ thuật ngữ Latinh colere / cultura (trồng trọt, vun trồng tinh thần), quan niệm phương Tây (F. Bacon, T. Hobbes, Pufendorf, Voltaire, J. Herder, Adelung, I. Kant, I. Schiller, G.W.F. Hegel) đến phương Đông cổ đại (Chu Dịch, Thuyết Uyển của Lưu Hướng, quan niệm của Khổng Tử). Dưới lăng kính mác-xít, văn hóa bắt nguồn từ lao động sản xuất vật chất của con người; văn hóa mang bản chất "tính người" và "tính xã hội", thể hiện tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại. Tác giả tổng hợp định nghĩa: Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra nhằm mục đích phát triển bản thân con người và xã hội. Luận án giới hạn nghiên cứu ở góc độ các giá trị tinh thần.
  • Khái niệm nền tảng tinh thần của xã hội: Nền tảng tinh thần là hệ giá trị, chuẩn mực, cơ sở tư tưởng, tình cảm và niềm tin tạo nên chỗ dựa nội tâm, định hướng hành vi cho con người và xã hội. Dựa trên các bức thư của Ph. Ăngghen gửi Boóc-ghi-út (1894) và gửi J. Bloch (1890), luận án khẳng định nhân tố kinh tế quyết định xét đến cùng, nhưng các yếu tố tinh thần (chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, nghệ thuật) có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở kinh tế và môi trường xã hội.
  • Bốn khía cạnh của luận điểm "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội":
    1. Văn hóa là nền tảng tinh thần đi song hành cùng nền tảng vật chất (kinh tế), cả hai gắn bó chặt chẽ, tạo thành hai trụ cột cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
    2. Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Luận án phân tích phê phán quan điểm tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế đơn thuần bất chấp chi phí xã hội; trích dẫn Ph. Ăngghen trong Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước cảnh báo nguy cơ xã hội bị tha hóa bởi của cải nếu thiếu định hướng nhân văn.
    3. Văn hóa thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hội, trong đó tư tưởng, đạo đức, lối sống là những lĩnh vực then chốt.
    4. Văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sinh hoạt, hoạt động và mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng, gia đình và xã hội.
  • Tác động hai mặt của kinh tế thị trường định hướng XHCN đến văn hóa:
    • Tác động tích cực: Thúc đẩy tính năng động, sáng tạo của chủ thể văn hóa; giải phóng tiềm năng xã hội; đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ văn hóa; mở rộng giao lưu, tiếp nhận giá trị văn hóa nhân loại; tạo nguồn lực vật chất nâng cao đời sống văn hóa.
    • Tác động tiêu cực: Xu hướng thương mại hóa, biến sản phẩm văn hóa thành hàng hóa thuần túy chạy theo lợi nhuận; lối sống thực dụng, sùng bái tiền tài, vị kỷ; gia tăng phân hóa hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền và tầng lớp dân cư; nguy cơ xói mòn các giá trị đạo đức truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc.

Chương 2: Phát triển văn hoá với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Thực trạng và vấn đề đặt ra

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng văn hóa tinh thần tại Việt Nam qua năm thành tố cơ bản và khái quát bốn mâu thuẫn lớn đang nảy sinh trong thực tiễn.

  • Thực trạng năm lĩnh vực văn hóa tinh thần:

    1. Hệ tư tưởng: Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vai trò nền tảng tư tưởng trong đời sống chính trị - xã hội. Tuy nhiên, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đã xuất hiện tình trạng dao động, suy giảm niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, phai nhạt lý tưởng cách mạng.
    2. Đạo đức, lối sống: Xuất hiện tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức; tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, vô cảm, thực dụng; lối sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền làm tổn hại các giá trị gia đình và thuần phong mỹ tục truyền thống.
    3. Giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ: Quy mô hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng mở rộng nhanh chóng nhưng chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cơ cấu ngành nghề còn mất cân đối; hiện tượng tiêu cực trong thi cử, bằng cấp gây bức xúc xã hội.
    4. Văn học nghệ thuật: Có bước phát triển đa dạng về đề tài, thể loại và phương thức biểu đạt, tự do sáng tạo được tôn trọng; tuy nhiên còn thiếu vắng những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao; khuynh hướng "thương mại hóa", chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, sao chép nước ngoài diễn biến phức tạp.
    5. Thông tin đại chúng: Báo chí, truyền hình, internet phát triển mạnh mẽ về số lượng và phương tiện kỹ thuật; đáp ứng nhanh nhu cầu thông tin của người dân; song công tác quản lý còn nhiều sơ hở, xuất hiện thông tin thiếu kiểm chứng, sai lệch, phản cảm, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức công chúng.
  • Hệ thống số liệu và bảng biểu thực chứng: Luận án sử dụng sáu bảng thống kê để minh chứng cho các phân tích thực trạng:

Ký hiệu bảng Tên bảng số liệu trong luận án
Bảng 2.1 Tỷ lệ các ý kiến đánh giá về sự thay đổi của các phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, trí, tín, nhân, dũng trong cán bộ, đảng viên (so với trước khi có cuộc vận động).
Bảng 2.2 Tỷ lệ các loại ý kiến đánh giá về khuynh hướng biến đổi của một số biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cụ thể trong cán bộ, đảng viên (so với trước khi có cuộc vận động).
Bảng 2.3 Số lượng sinh viên và các trường Đại học và Cao đẳng.
Bảng 2.4 Cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho văn hóa và kinh tế qua các năm.
Bảng 2.5 Tỷ lệ người nghèo ở Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc gia.
Bảng 2.6 Các công trình văn hóa ở các tỉnh vùng cao.
  • Bốn vấn đề và mâu thuẫn đặt ra từ thực tiễn:
    1. Xu hướng tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế và đánh giá chưa đúng vai trò của văn hóa: Nhận thức coi văn hóa là lĩnh vực tiêu tiền, phụ thuộc thụ động vào kinh tế, dẫn đến tình trạng xem nhẹ đầu tư cho nền tảng tinh thần trong quy hoạch phát triển.
    2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu đầu tư tương xứng cho phát triển văn hóa với hạn chế về điều kiện vật chất, kỹ thuật: Nhu cầu phát triển các thiết chế văn hóa, bảo tồn di sản và phổ biến tri thức ngày càng lớn nhưng ngân sách nhà nước và cơ sở vật chất dành cho văn hóa còn rất eo hẹp, phân bổ chưa hợp lý.
    3. Mâu thuẫn giữa yêu cầu quản lý có hiệu quả, có văn hóa với hạn chế trong quản lý nhà nước về văn hóa: Hệ thống văn bản pháp luật về văn hóa chưa đồng bộ, chế tài xử lý vi phạm thiếu nghiêm minh, bộ máy quản lý văn hóa còn lúng túng trước sự bùng nổ của truyền thông mới và dịch vụ văn hóa thị trường.
    4. Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần thống nhất với sự đa dạng, khác biệt về trình độ dân trí và quan niệm văn hóa trong nhân dân: Sự phân hóa giàu nghèo và khoảng cách phát triển giữa thành thị với nông thôn, vùng sâu, vùng xa dẫn đến sự chênh lệch lớn về mức hưởng thụ văn hóa và nhận thức các chuẩn mực giá trị.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển văn hoá với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 xây dựng khung định hướng lý luận và đề xuất bốn nhóm giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ các mâu thuẫn thực tiễn đã chỉ ra ở Chương 2.

  • Bốn phương hướng phát triển văn hóa:

    1. Phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội không thể tách rời với việc xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
    2. Giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại.
    3. Phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội phải nhằm mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
    4. Gắn chiến lược phát triển văn hóa với chiến lược phát triển con người, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển.
  • Bốn nhóm giải pháp chủ yếu:

    1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý có hiệu quả của Nhà nước: Nâng cao năng lực lãnh đạo tư tưởng của Đảng; hoàn thiện hệ thống luật pháp và thể chế quản lý văn hóa; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa có phẩm chất và chuyên môn; tăng cường thanh tra, kiểm tra và ngăn chặn các sản phẩm độc hại, phản văn hóa.
    2. Xây dựng và phát triển hệ giá trị tinh thần Việt Nam: Xác lập và chuẩn hóa hệ giá trị chung của quốc gia thời kỳ mới (yêu nước, nhân văn, đoàn kết, cần kiệm, dân chủ, kỷ cương); đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình, nhà trường và toàn xã hội; gắn việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với công tác tự chỉnh đốn trong cán bộ, đảng viên.
    3. Phát triển văn hóa đi đôi với phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội: Đảm bảo sự hài hòa giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và đầu tư cho các thiết chế văn hóa; thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền thông qua việc ưu tiên đầu tư công trình văn hóa ở nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; xã hội hóa hợp lý các hoạt động văn hóa đi đôi với sự kiểm soát chất lượng của Nhà nước.
    4. Phát huy yếu tố tích cực, khắc phục tác động trái chiều của kinh tế thị trường, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN: Xây dựng văn hóa trong kinh doanh, đạo đức doanh nhân; hạn chế mặt trái của cạnh tranh và tâm lý sùng bái vật chất; bảo đảm thị trường sản phẩm văn hóa vận hành lành mạnh, đúng pháp luật và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

Căn cứ theo phần tự công bố của luận án, công trình đạt được ba đóng góp mới cơ bản sau:

  1. Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm rõ nội dung khoa học của luận điểm phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội; khẳng định tính đúng đắn và sự phát triển sáng tạo trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam khi đặt văn hóa làm nền tảng tinh thần song hành cùng nền tảng kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Về mặt thực tiễn: Luận án làm rõ thực trạng phát triển văn hóa tinh thần qua năm lĩnh vực cụ thể (tư tưởng; đạo đức, lối sống; giáo dục - KHCN; văn học nghệ thuật; thông tin đại chúng); chỉ ra bốn mâu thuẫn lớn nảy sinh giữa yêu cầu xây dựng nền tảng tinh thần với thực trạng kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới.
  3. Về mặt giải pháp: Luận án luận giải một cách có căn cứ khoa học và khẳng định tính khả thi của bốn phương hướng cùng bốn nhóm giải pháp nhằm giải quyết các mâu thuẫn, thúc đẩy sự phát triển văn hóa làm nền tảng tinh thần vững chắc cho xã hội Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở lĩnh vực văn hóa tinh thần (tập trung vào hệ tư tưởng, đạo đức lối sống, giáo dục, văn nghệ, báo chí truyền thông) dưới giác độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Do đó, công trình chưa đi sâu khảo sát các thành tố thuộc văn hóa vật chất, các thiết chế văn hóa vi mô ở từng địa phương, cũng như chưa thực hiện các khảo sát xã hội học định lượng diện rộng độc lập mà chủ yếu kế thừa dữ liệu thống kê thứ cấp hiện có tại thời điểm năm 2011–2012.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế vận hành cụ thể của thị trường công nghiệp văn hóa tại Việt Nam; nghiên cứu sâu về thang đo các hệ giá trị chuẩn mực cho từng nhóm xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế toàn diện; và khảo sát sự biến đổi văn hóa tinh thần dưới tác động của các phương tiện truyền thông số và mạng xã hội mới xuất hiện.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Triết học (đặc biệt là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Triết học văn hóa), Chủ nghĩa xã hội khoa học, Văn hóa học và Xây dựng Đảng. Phần tổng quan lý thuyết mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa ở Chương 1 có giá trị tham khảo học thuật cao.
  2. Giảng viên lý luận chính trị: Làm tài liệu giảng dạy các chuyên đề về văn hóa và con người trong chương trình Triết học Mác - Lênin, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam tại các trường đại học, học viện chính trị.
  3. Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và các luận cứ thực tiễn từ Chương 2 và Chương 3 để tham khảo trong việc xây dựng chính sách văn hóa, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và công bằng xã hội tại các địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận điểm "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội" được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức nêu ra lần đầu tiên trong văn kiện nào?
Luận điểm này được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra lần đầu tiên tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 1 năm 1993), sau đó tiếp tục được khẳng định và hoàn thiện tại các Đại hội VIII, IX, X, XI và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII.

2. Luận án giới hạn khảo sát văn hóa tinh thần qua những lĩnh vực cụ thể nào?
Luận án tập trung khảo sát năm lĩnh vực chủ yếu của văn hóa tinh thần: (1) Hệ tư tưởng; (2) Vấn đề đạo đức, lối sống; (3) Giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ; (4) Văn học nghệ thuật; và (5) Thông tin đại chúng. Trong đó, tư tưởng, đạo đức, lối sống được xác định là các lĩnh vực then chốt.

3. Luận án chỉ ra những mâu thuẫn chủ yếu nào trong thực trạng phát triển văn hóa ở Việt Nam thời gian qua?
Tác giả xác định bốn mâu thuẫn chính: (1) Xu hướng tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế và xem nhẹ vai trò của văn hóa; (2) Mâu thuẫn giữa yêu cầu đầu tư cho văn hóa với sự hạn chế về điều kiện vật chất, kỹ thuật; (3) Mâu thuẫn giữa yêu cầu quản lý có văn hóa, hiệu quả với hạn chế trong năng lực quản lý nhà nước; (4) Mâu thuẫn giữa yêu cầu xây dựng nền văn hóa thống nhất với sự khác biệt về dân trí và quan niệm văn hóa trong nhân dân.

4. Quan điểm duy vật lịch sử của Ph. Ăngghen được luận án vận dụng như thế nào khi giải thích mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa tinh thần?
Luận án dẫn chứng các bức thư của Ph. Ăngghen gửi Boóc-ghi-út và J. Bloch để khẳng định: sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực là nhân tố quyết định xét đến cùng, nhưng văn hóa tinh thần và các yếu tố kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở kinh tế và môi trường xã hội, thậm chí quyết định hình thức của các cuộc đấu tranh lịch sử.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Minh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội. Công trình phân tích đa chiều thực trạng năm lĩnh vực văn hóa tinh thần cùng bốn mâu thuẫn lớn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống bốn phương hướng và bốn nhóm giải pháp có tính hệ thống nhằm phát triển văn hóa bền vững, phục vụ mục tiêu phát triển con người và xã hội Việt Nam.