Chương 1 PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ VỚI TƯ CÁCH NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA-NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. VĂN HOÁ VỚI TƯ CÁCH NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA XÃ HỘI 1. Khái niệm văn hoá Văn hóa là hiện tượng mang tính đa dạng và phức tạp, do vậy có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa ở cả phương Đông và phương Tây. Học giả người Pháp J.
Derrida từng nói: "Văn hóa là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng đối với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó" [Phạm Duy Đức, 50, tr. Quan điểm này thoáng qua có phần "bất khả tri" nhưng nó chứng tỏ sự đa dạng, phong phú của văn hóa. Hai chữ "văn hóa" đã sớm xuất hiện trong ngôn ngữ loài người, đặc biệt ở những quốc gia được coi là cái nôi của văn minh nhân loại. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu văn hóa, phải đến thế kỷ XVII, khái niệm văn hóa mới thực sự được sử dụng như một thuật ngữ khoa học.
Trong quyển "Cultural anthropology" (Nhân chủng học văn hóa), Richley H.Crapo cho rằng, hai nhà khoa học Mỹ Alfred Krober và Clyde Kluckhohn đã khảo sát 158 định nghĩa về văn hóa [151, tr. Năm 1967, Abraham Moles, nhà văn hóa học Pháp cho rằng, có 250 định nghĩa về văn hóa. Ở Việt Nam, năm 1994, tác giả Phan Ngọc cho rằng, một nhà dân tộc học người Mỹ đã dẫn ra 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Từ Hồng Hưng, nhà nghiên cứu văn hóa Trung Hoa cho rằng, có đến hàng nghìn định nghĩa về văn hóa.Wundt, nhà ngôn ngữ Đức cho rằng, từ văn hóa xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ (khoảng thế kỷ 3 trước công nguyên, có nguồn gốc từ tiếng Latinh "Cultura"(có tài liệu viết cultus).
Nhà nghiên cứu ngôn 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngữ người Đức Claire Kramisch tại Đại học Califonia trong sách "Language and culture" (Ngôn ngữ và văn hóa) do Series Edition H.Widdowsion xuất bản, cho rằng, văn hóa bắt nguồn từ chữ Latinh: COLERE (To cultivate) và nó được xem như cái được vun trồng, chăm sóc [150, tr. Trong văn tự Latinh, từ này có nghĩa là trồng trọt, cày cấy, cư trú, luyện tập, lưu tâm hoặc chú ý kính quỷ thần.v…Sau đó, ý nghĩa này được phát triển thành nghĩa gieo trồng trí tuệ, tinh thần. Từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 2008 của Nhà xuất bản Đà Nẵng viết: "Văn hóa là tổng thể nói chung của những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử" [139, tr. Thời cổ đại, văn hóa được quan niệm như những gì gắn liền với giáo dục, đào tạo con người, làm cho con người hoàn thiện.
Thời kỳ phục hưng ở phương Tây, F. Becon (1561- 1626), nhà triết học người Anh cho rằng, sự gieo trồng linh hồn là sự nảy nở tri thức, là sự tiến bộ. Thomas Hobbes (1588- 1675) cũng coi sự giáo dục, truyền đạt kiến thức là sự giao tiếp tinh thần. Bước sang thế kỷ XVIII, khái niệm văn hóa được sử dụng rộng rãi hơn.
Pufendorf, nhà nghiên cứu pháp luật người Đức (1774) cho rằng, văn hóa là toàn bộ những gì được tạo ra bởi lao động xã hội, nghĩa là nó đối lập với trạng thái tự nhiên. Vôn - te (1699 - 1778), nhà văn, nhà triết học Pháp và J.Herder (1744-1803), nhà triết học, sử học người Đức đã cố gắng xác lập nguyên lý cho văn hóa. Herder cho rằng, văn hóa là sự hình thành lần thứ hai của con người, "trên dòng chảy lịch sử của mình" Sau Herder, Adelung, người Đức, cũng là người đầu tiên quan niệm lịch sử văn hóa như là lịch sử phát triển xã hội, đối lập với lịch sử các triều đại. Người ta thấy, nếu năm 1776 từ văn hóa xuất hiện trong Thư tịch thì năm 1783 khái niệm này có mặt trong từ điển Đức và năm 1870 xuất hiện trong từ điển Nga như một thuật ngữ khoa học.
Đến đầu thế kỷ XIX, triết học Cổ điển 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đức đã đạt sự tiến bộ trong quan niệm về văn hóa. Trước hết, phải kể đến quan niệm của Kant về văn hóa. Ông cho rằng, khả năng con người đặt ra cho chính mình những mục đích tự do, nên phụ thuộc vào tính tất yếu của tự nhiên bên ngoài và thể xác mình chính là mục đích cuối cùng của tự nhiên đồng thời đó cũng chính là văn hóa. Cùng thời với I.
Schiller 1759- 1805), nhà viết kịch Đức, người luôn xem văn hóa là nơi bộc lộ sức mạnh cá nhân của con người. Theo Heghen, văn hóa bậc cao nằm trong nghệ thuật là sự khám phá chân lý thông qua hình thức cảm quan hình tượng toàn vẹn, văn hóa tôn giáo là sự khám phá chân lý thông qua hình thức cảm nhận huyền bí, văn hóa của triết học là văn hóa cao nhất vì nó có thể phản ánh bản chất sâu sắc của sự vật. Tuy nhiên, hạn chế của Heghen là xem xét quá trình văn hóa như một quá trình chiếm lĩnh "tinh thần thế giới" chứ không phải quá trình chiếm lĩnh, cải tạo thế giới hiện thực. Điều này thể hiện tính duy tâm, siêu hình trong quan niệm về văn hóa của ông.
Ở phương Đông, các nhà nghiên cứu cho rằng, vào thời cổ đại, chưa có định nghĩa về văn hóa. Nhiều tài liệu cho thấy, từ "văn hóa" xuất hiện ở Trung Quốc vào thời Tây Hán (206 TCN - 23 năm sau Công nguyên), với ý nghĩa đối lập với vũ lực. Trong bài "Chi Vũ" sách "Thuyết Uyển", Lưu Hương đã viết: "Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực". Phàm dùng vũ lực để đối phó với người bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ "trừng phạt".
Thời cận đại và hiện đại, người ta đã gán cho khái niệm văn hóa nhiều nghĩa mới. Phạm vi của nó rất rộng, vừa bao hàm cả sản phẩm vật chất, vừa cả phong tục tập quán, hành vi cá nhân, thậm chí cả chế độ xã hội, v.Vì vậy, Khổng Tử xem "văn" là một trong bốn môn giáo dưỡng. Và khi "văn" và "hóa" gắn bó nhau như vậy thì nó tạo nên từ mới hàm ý chỉ Thi, Thư, Lễ, Nhạc, giáo hóa đạo đức con người. Rộng hơn nữa là chỉ chính trị.
Trong Chu Dịch cũng đề cập tới văn 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa như một phương thức dùng văn để cải hóa con người: "Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ" (Quan sát dáng vẻ con người để giáo hóa thiên hạ). Cùng với sự phát triển của xã hội, cho đến nay, có rất nhiều những cách tiếp cận văn hóa với những quan điểm hết sức phong phú, đa dạng. Trên hết là cách tiếp cận theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử - quan điểm triết học mácxít. Văn hóa trong quan niệm triết học mácxít là những vấn đề biến đổi của bản thân con người với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con người, nó được biểu hiện như một quá trình biến con người thành chủ thể của sự vận động lịch sử và trở thành một cá nhân toàn vẹn.
Mác trình bày trong một số tác phẩm: Hệ tư tưởng Đức (1844), Góp phần phê phán khoa Kinh tế chính trị (1859), Bộ Tư bản. Về nguồn gốc của văn hóa, C. Mác khẳng định, văn hóa bắt nguồn từ lao động. Ông viết: Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể "làm ra lịch sử".
Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng nghìn năm về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống con người [14 , tr. 39-40] Như vậy, theo quan điểm triết học mácxít, văn hóa được coi như một hoạt động thực tiễn biến đổi các quan hệ qua lại giữa con người với con 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người, giữa con người với thế giới.
Văn hóa là sự thăng hoa của quá trình sản xuất vật chất, là điều kiện để con người khẳng định mình. Nói cách khác, nguồn gốc của mọi hiện tượng, mọi quan hệ văn hóa đều gắn với các hoạt động sống của con người. Trong tác phẩm "Phê phán cương lĩnh Gôta", Mác đã vạch ra nguồn gốc của văn hoá: Văn hoá gắn liền với sức sáng tạo và năng lực của con người và sự sáng tạo đó bao giờ cũng bắt đầu từ lao động xã hội. Mác cho rằng: "Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người chuyển biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì có thể xét được trình độ văn hoá chung của con người" [Phạm Duy Đức, 50, tr.
Ăngghen đã phân tích tính chất xã hội của các lực lượng bản chất người, và một trong các lực lượng bản chất ấy là sức lao động, sức sáng tạo của con người, chúng sinh ra và biến đổi do tác động của các quan hệ xã hội, do trình độ phát triển của văn hóa. Nói cách khác, nếu phương diện kinh tế của lao động là sự sản xuất của cải vật chất, thì phương diện văn hóa của lao động là sáng tạo, là quá trình sức sáng tạo được vật thể hóa trong các hoạt động thích ứng và cải tạo thế giới, trong đó có bản thân con người.Ăngghen cũng khẳng định: Của cải là gì nếu không phải là sự biểu hiện tuyệt đối của những tài năng sáng tạo của con người, không cần tiền đề nào khác ngoài sự phát triển lịch sử đã có, sự phát triển vốn lấy cái chính thể của phát triển làm mục đích tự thân, tức là mọi lực lượng bản chất người, bất chấp quy luật đã định [Phạm Duy Đức, 50, tr. Cũng với quan điểm đó, hai ông khẳng định, lịch sử công nghiệp và sự tồn tại của nền công nghiệp là quyển sách mở của “các lực lượng bản chất người".