Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Giáo dục Mầm non của tác giả Trịnh Minh Hằng (Trường Đại học Hồng Đức, 2020) tiếp cận vấn đề giáo dục ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi mầm non thông qua việc khai thác các tác phẩm văn học thiếu nhi của nhà văn, nhà thơ Phạm Hổ. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ của trẻ. Vốn từ ngữ là nền tảng cốt lõi của việc phát triển ngôn ngữ, gắn liền với sự phát triển trí tuệ và toàn diện nhân cách. Việc phát triển từ được thực hiện xuyên suốt các hoạt động chăm sóc, giáo dục hàng ngày tại trường mầm non, trong đó hoạt động có chủ đích cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp hệ thống từ ngữ nghệ thuật đã được gọt dũa. Trong nền văn học thiếu nhi Việt Nam, Phạm Hổ là một tác giả chuyên tâm sáng tác cho trẻ nhỏ với phong cách thơ giản dị, trong sáng, ngộ nghĩnh và giàu nhạc điệu.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu vai trò của thơ Phạm Hổ đối với việc phát triển từ cho trẻ mầm non. Để thực hiện mục tiêu này, tác giả xác định hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của thơ Phạm Hổ.
  2. Phân tích và rút ra vai trò của thơ Phạm Hổ đối với việc phát triển từ cho trẻ mầm non.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thơ Phạm Hổ với việc phát triển từ cho trẻ mầm non. Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung khảo sát ngữ liệu trong ba tuyển tập thơ của tác giả Phạm Hổ do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành:

  • Bạn trong vườn (1984);
  • Những người bạn im lặng (1984);
  • Tuyển tập tác phẩm Chú bò tìm bạn (2002).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên khung lý thuyết về tâm lý học phát triển và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ mầm non, dựa vào các tài liệu chuyên ngành của Đinh Hồng Thái (Phương pháp phát triển lời nói trẻ em, NXB Đại học Sư phạm, 2007), Nguyễn Xuân Khoa (Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB Đại học Sư phạm, 2004), và nhóm tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005). Các tài liệu này xác lập các mốc phát triển ngôn ngữ từ 1 đến 6 tuổi và quy trình ba nhiệm vụ phát triển từ: làm giàu vốn từ, củng cố vốn từ và tích cực hóa vốn từ.

Về lịch sử vấn đề, tác giả tổng thuật các nghiên cứu, bài viết phê bình về sáng tác thiếu nhi của Phạm Hổ trên báo chí và tạp chí chuyên ngành của Võ Quảng (Báo Văn nghệ số 373), Trần Thanh Địch (Tạp chí Văn học số 6/1964), Trần Đăng Khoa, Định Hải, Vân Thanh (Tạp chí Văn học 3/1989; tập Văn học thiếu nhi Việt Nam, NXB Kim Đồng, 2002), Vũ Duy Thông và nhà văn Nguyên Ngọc. Đồng thời, khóa luận điểm lại các công trình nghiên cứu học thuật trước đó gồm: luận văn thạc sĩ của Ngô Đình Vân Nhi (2008) về đặc điểm viết truyện cho thiếu nhi của Phạm Hổ; khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thúy Hằng (2009) về nghệ thuật tập thơ Chú bò tìm bạn; khóa luận của Trần Thị Thanh Nga (2012) về thế giới hình tượng trong thơ thiếu nhi của Phạm Hổ; và khóa luận của Nguyễn Thị Khánh Huyền (2018) về phát triển vốn từ cho trẻ mầm non qua sáng tác thơ Phạm Hổ. Từ đó, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước chủ yếu dừng lại ở mức độ cảm nhận, đánh giá một vài bài thơ cụ thể hoặc một tập thơ riêng lẻ, chưa đi sâu khai thác hệ thống đặc điểm ngôn ngữ của toàn bộ các tập thơ để gắn với việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm non.

Tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa các tài liệu lý luận liên quan cùng các văn bản thơ của Phạm Hổ, làm cơ sở xác định vai trò của thơ đối với ngôn ngữ trẻ.
  • Phương pháp thống kê phân loại: Thống kê và phân loại các đặc trưng ngôn ngữ, thể thơ, từ loại, mô hình kết cấu nghệ thuật xuất hiện trong ngữ liệu khảo sát.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là ngữ liệu tác phẩm trích xuất trực tiếp từ ba tập thơ nêu trên cùng hệ thống tài liệu lý thuyết giáo dục mầm non.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 1 trình bày tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của tác giả Phạm Hổ và các cơ sở lý luận về phát triển vốn từ cho trẻ mầm non. Phạm Hổ (bút danh Hồ Huy, sinh ngày 28/11/1926 tại Nhơn An, An Nhơn, Bình Định) đỗ Thành Chung năm 1943 và tham gia hoạt động văn nghệ cách mạng từ năm 1945. Ông là một trong những thành viên tham gia sáng lập Nhà xuất bản Kim Đồng năm 1957. Trong sự nghiệp sáng tác cho thiếu nhi, ông đã xuất bản khoảng 20 tập thơ, 9 tập truyện, 4 vở kịch; từng đạt Tặng thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi (1957-1958 với tập Chú bò tìm bạn, 1967-1968 với tập Chú vịt Bông), Giải chính thức về thơ thiếu nhi của Hội đồng Văn học thiếu nhi - Hội Nhà văn Việt Nam (1985 với tập Những người bạn im lặng), và Giải thưởng kịch bản thiếu nhi năm 1986 (Nàng tiên nhỏ thành ốc).

Về mặt ngôn ngữ học và tâm lý học phát triển, khóa luận tổng hợp quy mô phát triển vốn từ ngữ của trẻ em qua các giai đoạn lứa tuổi:

Giai đoạn lứa tuổi Quy mô vốn từ ước tính Đặc điểm từ loại và khả năng thụ đắc
1 tuổi 7 – 10 từ Hình thành những từ có nghĩa đầu tiên qua bắt chước âm thanh.
1 năm – 1 năm 5 tháng 30 – 40 từ Bắt chước người lớn lặp lại các từ nghe được (bà, bố, mẹ, ngủ/ủ).
Cuối năm thứ 2 500 – 600 từ Vốn từ tăng nhanh từ tháng thứ 6 của năm thứ hai.
Năm thứ 3 (3 tuổi) Khoảng 1.300 từ Phần lớn là danh từ và động từ; tính từ chiếm tỷ lệ không đáng kể.
4 tuổi 1.900 – 2.000 từ Danh từ và động từ vẫn chiếm ưu thế, tính từ ít được sử dụng.
5 tuổi 2.500 – 2.600 từ Phân biệt từ gần nghĩa (băm/chặt), hiểu từ đa nghĩa, đếm 1–10.
6 tuổi 3.000 – 4.000 từ Tính từ và các từ loại khác chiếm tỷ lệ cao hơn; hiểu nghĩa trừu tượng.

Khóa luận chỉ ra các lỗi dùng từ phổ biến ở trẻ mầm non: dùng danh từ chưa chính xác ("bụi cây" gọi thành "vườn cây"), động từ chưa chuẩn xác ("anh bắt đền em đi"), nhầm lẫn tính từ chỉ màu sắc (màu hồng nói thành đỏ hoặc vàng; màu nâu nói thành xám hoặc đen; màu tím nói thành nâu; màu da cam nói thành vàng) và sử dụng sai các hư từ quan hệ ("thì", "là", "mà"). Trên cơ sở đó, chương 1 phân tích ba nhiệm vụ phát triển từ:

  1. Làm giàu vốn từ: Đi từ cụ thể đến khái quát; cung cấp danh từ định danh đồ vật, động từ chỉ hoạt động cơ bản, tính từ chỉ đặc điểm cảm giác; tiếp theo là từ láy âm, từ tượng thanh, từ tượng hình, từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, và một số biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ dễ hiểu.
  2. Củng cố vốn từ: Sửa lỗi phát âm các từ khó (loắt choắt, con hươu, cái phích, con ếch, khuỷu tay), sửa lẫn lộn phụ âm l/n, sửa lỗi thanh điệu (ngã sang sắc, hỏi sang nặng); củng cố nghĩa chính, nghĩa phụ và tính đa nghĩa của từ.
  3. Tích cực hóa vốn từ: Giúp trẻ chuyển hóa vốn từ thụ động thành vốn từ chủ động trong giao tiếp thông qua việc sử dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa và liên hệ với môi trường thiên nhiên xung quanh.

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của thơ Phạm Hổ

Chương 2 phân tích các đặc trưng nghệ thuật ngôn từ trong thơ thiếu nhi của Phạm Hổ theo ba khía cạnh:

  1. Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, phù hợp với tâm lý trẻ thơ: Thơ Phạm Hổ tái hiện thế giới đồ vật quen thuộc (cái kéo, cái chổi, cái đinh, dây cầu chì) với tư duy ngộ nghĩnh, hồn nhiên. Nhiều bài thơ ghi lại lối suy nghĩ phi logic thông thường nhưng phù hợp với tâm lý trẻ nhỏ, tiêu biểu như hình ảnh chú bò nhìn bóng mình dưới nước tưởng là bạn trong bài Chú bò tìm bạn, phản ứng nũng nịu của chú bê con trong Bê đòi bú, hay câu hỏi ngây thơ trong bài Soi gương. Tác giả cũng khai thác sự quan sát tự nhiên tinh tế để giới thiệu những quy luật bất ngờ của sinh vật như trong các bài Bắp cải xanh, Đàn gà con, Vịt, Thuyền và cá.

  2. Ngôn ngữ mang tính dân gian:

  • Lối nhại đồng dao: Tác giả vận dụng thể thơ ngắn từ 2, 3 đến 4, 5 chữ, ngắt nhịp nhanh, gieo vần lặp, giàu nhạc tính, tạo điều kiện cho trẻ vừa đọc vừa vận động hoặc chơi trò chơi (Bắp cải xanh, Na, Củ cà rốt, Ổi). Điểm đặc biệt của một số bài nhại đồng dao là kết cấu vòng tròn hoặc kết cấu trùng điệp giúp trẻ dễ ghi nhớ.
  • Chất liệu cổ tích và huyền thoại: Hình ảnh thơ gợi nhắc các câu chuyện dân gian quen thuộc, ví dụ hình ảnh quả thị liên tưởng đến truyện Tấm Cám trong bài Thị, quả khế vàng liên tưởng truyện Cây khế trong bài Khế, hoặc quả dưa hấu liên tưởng đến Mai An Tiêm trong bài Dưa hấu.
  • Chất liệu ngụ ngôn: Xây dựng các câu chuyện ngụ ngôn dạng thơ nhằm dẫn dắt trẻ tư duy, nhận xét về hành vi của loài vật và con người (Ngỗng và Vịt, Quạ và Sáo đen, Gà trống tham ăn).
  1. Sử dụng từ tượng thanh, từ tượng hình và nghệ thuật phối âm, đối thoại:
  • Hệ thống âm thanh, nhịp điệu: Thơ Phạm Hổ mô phỏng trực tiếp âm thanh đời sống nhằm tác động vào giác quan trẻ. Khóa luận dẫn chứng nhịp hai dồn dập mô phỏng đoàn tàu trong Tàu dài, tiếng còi xe chữa cháy "Tí te... Tí te" mô phỏng thành lời đáp "Có ngay!" trong Xe chữa cháy, tiếng máy khâu "xạch, xạch, xạch" thành "Sắp xong rồi!" trong Máy khâu, hay thể thơ hai chữ với nhịp điệu êm nhẹ diễn tả sự sinh trưởng trong bài Sen nở.
  • Hình thức đối thoại: Tác giả thống kê có tới khoảng 1/4 (25%) số bài thơ được viết theo hình thức đối thoại hỏi - đáp. Cấu trúc này phản ánh nhu cầu giải đáp thắc mắc thường ngày của trẻ trước hiện tượng tự nhiên (Hoa hồng, Hoa sen, hoa đào, Chim sáo, Lúa và gió).

Chương 3: Vai trò của thơ Phạm Hổ trong việc phát triển từ cho trẻ mầm non

Chương 3 luận giải vai trò thực tiễn của thơ Phạm Hổ đối với công tác phát triển vốn từ cho trẻ mầm non trên ba phương diện:

  1. Làm giàu, củng cố và tích cực hóa vốn từ: Thơ Phạm Hổ phân chia thế giới nhân vật thành từng nhóm đề tài cụ thể gắn với tên các tập thơ: "Những người bạn nhỏ" (vật nuôi như chó, mèo, gà, thỏ, trâu, bò), "Bạn trong vườn" (cây cối như chuối, bưởi, cam, nhãn, vải, thị, na), "Những người bạn im lặng" (đồ vật gia đình như chổi, đinh, thước, rế, cầu chì, hộp thư, que đan), và "Những người bạn ồn ào/hay kêu" (tàu hỏa, xe chữa cháy, radio, máy bay trực thăng). Cách sắp xếp theo trường liên tưởng này cung cấp cho trẻ một lượng danh từ phong phú kèm các đặc trưng thuộc tính tương ứng, giúp trẻ củng cố biểu tượng và dễ dàng chuyển hóa từ ngữ thụ động vào ngữ cảnh giao tiếp.

  2. Cung cấp vốn ngôn ngữ nghệ thuật thông qua chất liệu dân gian: Thơ nhại đồng dao cung cấp ngữ liệu luyện phát âm chuẩn xác cho trẻ, chẳng hạn phân biệt phụ âm x ("xanh") và s ("sắp") trong bài Bắp cải xanh, hoặc luyện đếm số tự nhiên. Việc tích hợp chất liệu cổ tích và ngụ ngôn giúp mở rộng vốn từ miêu tả hành vi, tính cách nhân vật (hiền lành, tốt bụng, chăm chỉ), hỗ trợ trẻ làm quen với các phương thức biểu cảm và giáo dục luân lý đạo đức.

  3. Mở rộng biểu tượng thông qua từ tượng thanh, tượng hình: Các từ ngữ miêu tả hình ảnh, màu sắc và âm thanh trong thơ Phạm Hổ (Một ngôi sao nấp sau cành lá, Mây, Một ông trăng, Cầu vồng, Rong và cá) giúp kích thích trí tưởng tượng và các giác quan của trẻ. Nhờ các thủ pháp so sánh và nhân cách hóa, các hiện tượng thiên nhiên trở nên cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tiếp thu nghĩa của từ một cách trực quan, sinh động.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên việc đối chiếu ngữ liệu văn bản:

  • Hệ thống hóa các chỉ số phát triển vốn từ theo độ tuổi từ 1 đến 6 tuổi, chỉ ra quy mô tăng từ 7–10 từ ở giai đoạn 1 tuổi lên 3.000–4.000 từ ở giai đoạn 6 tuổi, đồng thời tổng hợp các dạng lỗi ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp mà trẻ thường mắc.
  • Phân tích và phân loại các đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trong 3 tuyển tập thơ của Phạm Hổ, xác định tỷ lệ các bài thơ sử dụng hình thức đối thoại chiếm khoảng 25% (1/4 số bài), chứng minh hiệu quả của thể thơ ngắn (2–3 chữ), kết cấu vòng tròn và lối nhại đồng dao.
  • Đề xuất định hướng vận dụng ngữ liệu thơ Phạm Hổ vào hoạt động giáo dục ngôn ngữ: giáo viên mầm non có thể sử dụng các bài thơ theo chủ điểm để dạy trẻ phát âm đúng (phân biệt phụ âm đầu, thanh điệu), giải thích nghĩa từ cụ thể gắn với vật thể, và tổ chức trò chơi dân gian nhằm tích cực hóa vốn từ.

Về mặt đóng góp khoa học, khóa luận kết nối lý luận phát triển ngôn ngữ mầm non với việc khảo sát hệ thống ngôn ngữ trong tác phẩm của một tác giả thiếu nhi cụ thể. Nghiên cứu mở rộng từ việc phân tích giá trị cảm thụ văn học đơn lẻ sang việc đánh giá giá trị ứng dụng sư phạm của các tập thơ đối với ba nhiệm vụ giáo dục từ ngữ ở trường mầm non.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn được tác giả ghi nhận:

  • Phạm vi khảo sát mới tập trung vào ba tuyển tập thơ (Bạn trong vườn, Những người bạn im lặng, Tuyển tập tác phẩm Chú bò tìm bạn), chưa bao quát toàn bộ hơn 25 tập thơ, 10 kịch bản sân khấu và các truyện cổ tích mới của Phạm Hổ.
  • Nghiên cứu dừng lại ở mức phân tích ngữ liệu văn bản và liên hệ lý thuyết sư phạm, chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm trên nhóm trẻ mầm non cụ thể với các bài kiểm tra đo lường định lượng mức độ tăng trưởng vốn từ trước và sau tác động.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên toàn bộ mảng sáng tác truyện và kịch bản hoạt hình của tác giả; đồng thời xây dựng hệ thống giáo án thực nghiệm sư phạm đối chứng để đánh giá mức độ tiếp nhận và phát triển vốn từ của trẻ theo từng độ tuổi mẫu giáo bé, nhỡ và lớn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Tham khảo khung lý thuyết về vốn từ trẻ em, các giai đoạn phát triển từ ngữ từ 1 đến 6 tuổi và phương pháp phân tích tác phẩm văn học thiếu nhi dưới góc độ ngôn ngữ học ứng dụng.
  • Giáo viên mầm non: Trích xuất các bài thơ theo chủ điểm ("Bạn trong vườn", "Những người bạn im lặng", "Những người bạn ồn ào") làm tư liệu giảng dạy trong hoạt động làm quen văn học, luyện phát âm và phát triển lời nói mạch lạc.
  • Người nghiên cứu văn học thiếu nhi: Tham khảo dữ liệu phân loại đặc trưng thơ Phạm Hổ về nhịp điệu, lối nhại đồng dao và cấu trúc đối thoại nghệ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát những tập thơ cụ thể nào của nhà thơ Phạm Hổ?
Khóa luận tập trung nghiên cứu ngữ liệu trong ba tuyển tập thơ do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành: Bạn trong vườn (1984), Những người bạn im lặng (1984) và Tuyển tập tác phẩm Chú bò tìm bạn (2002).

2. Quy mô vốn từ của trẻ mầm non từ 1 đến 6 tuổi được thống kê như thế nào trong khóa luận?
Theo số liệu khóa luận trích dẫn: trẻ 1 tuổi có khoảng 7–10 từ; từ 1 đến 1,5 tuổi đạt 30–40 từ; cuối năm thứ hai đạt 500–600 từ; trẻ 3 tuổi sử dụng được khoảng 1.300 từ; trẻ 4 tuổi đạt 1.900–2.000 từ; trẻ 5 tuổi đạt 2.500–2.600 từ; và trẻ 6 tuổi có vốn từ đạt khoảng 3.000–4.000 từ.

3. Hình thức đối thoại chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong thơ Phạm Hổ và có tác dụng gì đối với trẻ?
Hình thức đối thoại xuất hiện trong khoảng 1/4 (25%) tổng số bài thơ khảo sát. Cấu trúc câu hỏi - đáp này mô phỏng các thắc mắc thường ngày của trẻ nhỏ, kích thích khả năng tư duy liên tưởng, giải thích các hiện tượng tự nhiên và tạo điều kiện cho trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp.

4. Khóa luận phân tích ví dụ nào cho thấy thơ Phạm Hổ hỗ trợ sửa lỗi phát âm cho trẻ?
Tác giả nêu ví dụ bài thơ Bắp cải xanh, với các câu thơ ngắn lặp lại phụ âm giúp trẻ mầm non luyện tập phát âm chính xác và phân biệt phụ âm đầu x (trong từ "xanh") với phụ âm s (trong từ "sắp").

5. Những chất liệu dân gian nào được tác giả chỉ ra trong thơ thiếu nhi của Phạm Hổ?
Ba chất liệu dân gian nổi bật được phân tích gồm: lối thơ nhại đồng dao (thể thơ 2–3 chữ, nhịp điệu nhanh, kết cấu vòng tròn), thi liệu bắt nguồn từ truyện cổ tích thần thoại (Tấm Cám, Cây khế, truyền thuyết Mai An Tiêm), và cấu trúc truyện ngụ ngôn loài vật.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trịnh Minh Hằng đã làm rõ mối liên hệ giữa các đặc điểm ngôn ngữ trong thơ thiếu nhi của Phạm Hổ với các nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mầm non. Công trình hệ thống hóa các mốc phát triển vốn từ của trẻ từ 1 đến 6 tuổi và phân tích sâu các thủ pháp nghệ thuật như thể thơ ngắn, lối nhại đồng dao, cấu trúc đối thoại và hệ thống từ tượng thanh, tượng hình. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở ngữ liệu chuyên môn phục vụ việc giảng dạy hoạt động làm quen văn học và phát triển lời nói tại các cơ sở giáo dục mầm non.