Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Giới thiệu về tác giả Phạm Hổ 1.Tiểu sử tác giả Phạm Hổ Suốt gần nửa thế kỷ cần bút viết cho thiếu nhi, nhà thơ Phạm Hổ từng tâm sự: “Nếu được sống thêm một lần nữa, tôi vẫn chọn nghề cũ: làm thơ, viết văn cho các em đọc, còn vẽ tranh cho các em xem nữa. Tôi thường lấy lòng yêu mến các em, lấy những công việc mình làm cho các em làm thước đo lòng mình với dân với nước…”. Và ông đã thực sự nêu gương đó trong cả cuộc đời mình, trong những trang viết như là sự kết tinh toàn bộ tài năng và tâm hồn ông.
Phạm Hổ đến với độc giả nhỏ tuổi bằng nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, kịch bản phim hoạt hình và một số tiểu luận, phê bình, kinh nghiệm sáng tác văn học cho thiếu nhi…góp phần vào sự hình thành và phát triển của nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Qua mỗi trang viết của Phạm Hổ, người đọc đều thấm đẫm một tình yêu đằm thắm mà ông đã dành cho độc giả nhỏ tuổi. Chính vì vậy mà qua nhiều thế kỉ, những sáng tác của Phạm Hổ vẫn luôn được các em đón nhận một cách hào hứng, trở thành hành trang theo các em khôn lớn vào đời. trong số những cây bút viếc cho thiếu nhi, Phạm Hổ luôn là nhà văn được các em yêu quý và trân trọng.
Những tình cảm yêu quý của các em là phần thưởng lớn nhất đi đôi với Phạm Hổ- nhà thơ của tuổi thơ. Phạm Hổ có bút danh là Hồ Huy. Ông sinh ngày 28-11-1926 tại xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thuở nhỏ, Phạm Hổ đi học ở trường làng.
Sau đó, ông học tiểu học ở Tam Kỳ, Huế rồi học trung học ở trường Quốc học Quy Nhơn. Năm 1943, ông đỗ Thành Chung, chưa kịp thi tú tài thì Cách mạng tháng Tám thành công, ông đi theo Cách mạng và hoạt động văn nghệ từ đó. Ông làm thông tin tuyên truyền tại thị xã Nguyễn Huệ (Quy Nhơn), sau đó làm thư kí thường trực ở Chi hội Văn hóa cứu quốc Bình Định do nhà thơ Trần Mai Ninh làm chi hội trường. Năm 1947, ông làm biên tập viên báo Tin tức Bình Định rồi được cử đi học ở lớp hội họa kháng chiến liên khu V do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung phụ trách.
Sau khóa 7 học, ông về làm cán bộ sáng tác của chi hội văn nghệ liên khu V và được bầu làm ủy viên Ban chấp hành đoàn hội họa liên khu V. Năm 1949-1950, ông được cử đi dự Hội nghị văn nghệ ở Việt Bắc cùng với nhà văn Nguyễn Văn Bổng và được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Chi hội văn nghệ liên khu V. Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, làm công tác đối thoại ở Hội văn nghệ Trung ương. Ông là một trong những thành viên (cùng với Nguyễn Huy Tưởng, Võ Quảng, Tô Hoài…) đã sáng lập ra Nhà xuất bản Kim Đồng (1957) và có nhiều đóng góp cho sự trưởng thành và phát triển không ngừng của nhà xuất bản dành riêng cho trẻ em này.
Năm 1960, ông làm biên tập viên tại nhà xuất bản Văn học. Năm 1965-1983, ông làm biên tập viên ở tuần báo Văn học (sau đổi thành báo Văn nghệ). Năm 1983, ông về Hội Nhà văn, làm ở tiểu ban Văn học thiếu nhi và công tác đối ngoại. Tiếp đó, ông được cử làm Chủ tịch Hội đồng Văn học thiếu nhi và Phó trưởng ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam.
Sự nghiệp sáng tác của tác giả Phạm Hổ Phạm Hổ sáng tác nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết và phê bình văn học… cho cả người lớn và trẻ em, nhưng nói đến Phạm Hổ trước hết phải nói đến sự đóng góp cho thiếu nhi nước nhà. Ở lĩnh vực viết cho trẻ em, ông là một cây bút viết nhiều, viết tốt. Đến nay, ông đã in khoảng 20 tập thơ, 9 tập truyện và 4 vở kịch cho các em. Những tác phẩm chính là: Chú bò tìm bạn (tuyển tập thơ); Chuyện hoa, chuyện quả (6 tập truyện cổ tích mới); nàng tiên nhỏ thành ốc (bộ 3 vở kịch)… Ông được trao nhiều giải thưởng văn học như: - Tặng thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi (1957-1958), tập thơ Chú bò tìm bạn.
- Tặng thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi (1967-1968), tập thơ Chú vịt Bông. 8 - Giải chính thức về thơ viết cho thiếu nhi của Hội đồng Văn học thiếu nhi, Hội Nhà văn Việt Nam (1985), tập thơ Những người bạn im lặng. - Giải thưởng cuộc thi sáng tác kịch bản cho thiếu nhi do hội nghệ sĩ sân khấu tổ chức (1986) , vở kịch Nàng tiên nhỏ thành ốc… Ngoài ra, Phạm Hổ còn có một số tập thơ, bài thơ và truyện được dịch và giới thiệu ở nước ngoài: Nga, Trung Quốc, Pháp, Đức… Phạm Hổ còn là dịch giả của nhiều tác phẩm thơ, truyện thiếu nhi. Trong những tác phẩm dịch cũng in đậm dấu ấn hồn thơ Phạm Hổ, xin dẫn một bài làm ví dụ: “Chúng tớ là cú con Chúng tớ cứ đứng luôn Khi ăn, chúng tớ không ngủ, Khi ngủ, chúng tớ không ăn”.
(Những chú cú con – Thơ Mắc-xắc) Phạm Hổ cũng là người ham thích hội họa. Năm 1947, ông là học viên của khóa đào tạo về hội họa ở liên khu V do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung phụ trách. Năm 1992, triển lãm tranh của ông (gồm 72 bức) ở Nhà văn hóa thiếu nhi Hà Nội đã để lại ấn tượng khá sâu sắc cho người xem. Khi họa sĩ Đỗ Cung được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật thì Phạm Hổ là một trong năm họa sĩ đã có tranh tham gia triển lãm chúc mừng thầy… Là người làm việc cần mẫn và chăm chỉ, Phạm Hổ luôn có những dự định và kế hoạch lâu dài với ước mơ sáng tác được thật nhiều, thật hay cho các em.
Vô cùng xúc động , khi bước vào tuổi 80, trên giường bệnh với những cơn đau dữ dội, nhà thơ vẫ sáng tác để tặng thiếu nhi, tặng cho cuộc đời những vần thơ chất chứa yêu thương và khát vọng sống: “Núi sinh ra để cao Biển sinh ra để rộng Sông sinh ra để dài Con người sinh ra để yêu thương Không gian có để vô tận 9 Thời gian có để suy nghĩ Trái đất là cuộc sống Ngày đêm Con người nâng trái đất lên tay Mồ hôi tiếng hát nên cây nên nhà (Ý nghĩ đầu xuân) Đó là những vần thơ được chắt lọc qua bao năm tháng, giàu triết lý mà vẫn đôn hậu yêu thương, là tiếng thơ cuối cùng của Phạm Hổ trước khi ông đi vào cõi vĩnh hằng. Đọc những vần thơ này, ta càng thấy kính trọng ông hơn, càng trân trọng cuộc sống của chính mình, cuộc sống xung quanh mình. Động lực thôi thúc ông chính là những ánh mắt thân yêu của các em thơ, là những nụ cười rạng rỡ của các cháu mẫu giáo, sự trưởng thành của thiếu nhi khi chúng được sống, được học tập, được đọc thơ trên chính quê hương mình với bạn bè, thầy cô giáo và những người thân yêu nhất. Chúng được lớn lên để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.
Đáp lại tấm lòng ấy, ngày nay trong các giờ học tiếng Việt, Văn học ở các cấp học, trong tủ sách gia đình, nhà trường, các em nhỏ vẫn tiếp tục trở về với những vần thơ của ông. Đọc rồi, tưởng tượng, rồi lớn hơn, chăm ngoan hơn, hiểu biết xã hội hơn. Đây chính là những lời tri ân mà lớp lớp thế hệ độc giả đã dành cho Phạm Hổ, cho rất nhiều những nhà thơ đã cống hiến trọn đời cho Văn học thiếu nhi Việt Nam. Nhiệm vụ phát triển từ cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non 2.
Đặc điểm vốn từ ngữ của trẻ Từ một năm đến một năm năm tháng, trẻ bắt chước người lớn, lặp lại cho trẻ những từ nghe được: bà, bố, mẹ, ủ (ngủ) …Số lượng từ có thể đạt 30 – 40 từ. Từ tháng thứ 6 của năm thứ hai, vốn từ tăng vụt lên và đến cuối năm thứ 2 các em có thể có đến 5, 6 trăm từ. Đến năm thứ 3, các em đã sử dụng được 1300 từ, trong đó phần lớn là danh từ, động từ, còn tính từ và những từ loại khác chỉ chiếm một tỉ lệ rất ít, không đáng kể. Những từ được các cháu sử dụng thường là những từ chỉ tên gọi đồ chơi, đồ dùng, những con vật… mà các cháu thường xuyên được tiếp xúc, là những từ chỉ những việc làm của các cháu hoặc của mọi người xung quanh 10 (như: ăn, ngủ, tắm, rửa, quét, đi, nằm, bế, cõng,…) hoặc là những từ chỉ hành động của những con vật (như: gà mổ thóc, cá bơi, mèo cào, chó cắn…) Ở trẻ 4 tuổi, vốn từ của các cháu có thể có được khoảng 1900 đến 2000 từ, trong đó danh từ và động từ vẫn chiếm ưu thế, còn tính từ và các từ khác còn ít sử dụng.
Trẻ 5 tuổi, có thể sử dụng được từ 2500 đến 2600 từ, còn trẻ 6 tuổi có khoảng 3000 đến 4000 từ, trong đó tính từ và các loại từ khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn. Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm được những từ mang ý nghĩa cụ thể như những từ là tên gọi các đồ vật trong gia đình (bát, dĩa, bàn, ghế…) tên gọi động vật, thực vật (lợn, chó, gà, vịt, cây chối, quả na,…) Vật thể xung quanh thu hút sự chú ý của trẻ và nhận thức được tên gọi chỉ trong trường hợp người ta cho trẻ “giao tiếp” với chúng : đụng đến, sờ mó đến vật, mân mê trong tay, vuốt ve, sờ mó, nghe, ngửi, ăn…Ngay khoảng 2 tuổi, trẻ nhớ tên gọi đối tượng khó khăn nếu chỉ nhìn nó. Qua trình nắm ý nghĩa của từ đi từ các hình ảnh cảm giác đến sự khái quát ý nghĩa. Đầu tiên trẻ hiểu từ “bàn” có tính chất cảm giác (nhìn, sờ, mó) các cảm giác gắn với từ “bàn” chỉ một đối tượng duy nhất như một danh từ riêng.
Sau đó, trẻ làm quen với bàn khác khác về hình dáng kích thước. Cảm giác về chúng khác nhau, nhưng có cái chung giống nhau, tất cả đều là “bàn”. Từ này nhận được nghĩa rộng hơn,tách khỏi các cảm giác trực tiếp, trẻ hiểu được “bàn” nói chung, chứ không phải cái bàn cụ thể. Hoàn toàn xa rời các cảm giác trực tiếp là từ “đồ vật”, khái quát ở bậc cao hơn dùng để gọi các đồ gỗ (giường, tủ, bàn, ghế…) đồ nấu bếp (nồi, chậu, bát, dĩa…)…Từ “đồ vật” có ý nghĩa trừu tượng trẻ hiểu nó không phải bằng cảm giác mà bằng sự trừu tượng hóa .