CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ðỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI TRỒNG TRỌT 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI TRỒNG TRỌT 1. Trang trại và phát triển trang trại a. Trang trại Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục ñích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể ñộc lập.
Sản xuất ñược tiến hành trên qui mô ruộng ñất và các yếu tố sản xuất ñược tập trung tương ñối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình ñộ kỹ thuật cao, hoạt ñộng tự chủ và luôn gắn với thị trường. [16] Ở các nước phát triển, trang trại gia ñình có vai trò to lớn và quyết ñịnh trong sản xuất nông nghiệp và ñại bộ phận nông sản cung cấp cho xã hội ñược sản xuất ra trong các trang trại gia ñình. Ở nước ta, loại hình trang trại mà chủ yếu là trang trại gia ñình, mặc dù mới phát triển trong những năm gần ñây, song vai trò tích cực và quan trọng của trang trại ñã thể hiện rõ nét cả về kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường. Có thể khẳng ñịnh rằng, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa dựa trên cơ sở lao ñộng, ñất ñai, tư liệu sản xuất cơ bản của hộ gia ñình, hoàn toàn tự chủ, sản xuất kinh doanh bình ñẳng với các tổ chức kinh tế khác, sản phẩm làm ra chủ yếu là ñể bán và tạo nguồn thu nhập chính cho gia ñình.
Trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, trang trại ñược hiểu với các khái niệm cụ thể sau: + Trang trại là tổ chức sản xuất cơ sở của nền nông nghiệp sản xuất Luan van 11 hàng hoá trong thời kỳ công nghiệp hoá. + Trang trại là ñơn vị sản xuất nông nghiệp ñộc lập tự chủ, là chủ thể pháp lý có tư cách pháp nhân trong các quan hệ kinh tế - xã hội, có cơ sở vật chất kỹ thuật ñể ñảm bảo sản xuất nông nghiệp, có tổ chức lao ñộng sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh nghiệp (hạch toán kinh tế). + Trang trại thường có các qui mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn) song song tồn tại lâu dài với sự thay ñổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung bình… Trang trại thường có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong và ngoài nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên môn hoá, ña dạng hoá sản phẩm) với trình ñộ năng lực sản xuất khác nhau. Trang trại trồng trọt Trang trại trồng trọt cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hóa, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hóa phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay.
Trang trại trồng trọt là một nền tảng lớn của một hệ thống KTTT nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào ñiều kiện ñất ñai, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, giống cây trồng, chăm sóc cây trồng,. Sản phẩm của trồng trọt phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng của ñại ña số người dân trong cả nước. Trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường, phât triển trang trại trồng trọt là sự phát triển tất yếu của quy luật sản xuất hàng hóa trong lĩnh vực nông nghiệp. Các yếu tố ñầu vào như: vốn, lao ñộng, giống, trình ñộ khoa học công nghệ, cũng như các sản phẩm ñầu ra: cà phê, tiêu, ñiều, hoa quả,… ñều là hàng hóa.
[9] Từ ñó có thể rút ra khái niệm về trang trại trồng trọt: Trang trại trồng trọt là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông Luan van 12 thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia ñình, nhằm mở rộng quy mô và hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt các loại cây trồng hàng năm và lâu năm, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản. Phát triển trang trại trồng trọt Phát triển trang trại trồng trọt là sự gia tăng thực tế giá trị sản lượng hàng hóa sản xuất ra trong lĩnh vực trồng trọt hay thu nhập trên trang trại trồng trọt trong một thời kỳ nhất ñịnh. ðồng thời, phát triển trang trại là một quá trình hoàn thiện về chất của phát triển sản xuất trang trại với sử dụng hiệu quả các nguồn lực, trình ñộ của chủ trang trại ñược nâng cao, tạo việc làm ở khu vực nông thôn, môi trường sinh thái, thể chế…theo hướng hiện ñại, trong một thời gian nhất ñịnh nhằm phát triển trang trại bền vững. Phát triển trang trại trồng trọt là quá trình tăng cường các yếu tố vật chất của trang trại trồng trọt cả về mặt số lượng và chất lượng, ñồng thời là quá trình giải quyết hài hòa hơn các mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt ñộng sản xuất kinh doanh của trang trại trồng trọt.
Phát triển trang trại trồng trọt phải ñược ñặt trong mối quan hệ hài hòa với yếu tố xã hội và bảo vệ môi trường là cơ sở bảo ñảm cho sự phát triển bền vững của trang trại trồng trọt. Trang trại trồng trọt phát triển hay không, ñược thể hiện thông qua quy mô sản xuất kinh doanh của trang trại ngày càng ñược mở rộng. Các yếu tố cơ bản của sản xuất ñược tăng cường cả về số lượng và chất lượng. ðặc trưng của trang trại trồng trọt Trang trại trồng trọt là một hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính sản xuất hàng hóa, có sử dụng lao ñộng thuê ngoài, sản xuất với mục tiêu chính ñể phục vụ thị trường.
Trang trại trồng trọt có những ñặc trưng sau: a. Sản xuất hàng hóa mang tính nông nghiệp Trang trại trồng trọt chủ yếu là sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nông nghiệp ñáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu của thị trường ñể thu ñược lợi Luan van 13 nhuận, tích lũy vốn nhằm phát triển mở rộng quy mô sản xuất. Còn hộ tiểu nông chỉ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu ñể tự ñáp ứng những nhu cầu hàng ngày của gia ñình và mua bán càng ít càng tốt. Trình ñộ chuyên môn hóa, tập trung hóa Quy mô sản xuất, vốn ñầu tư, trang thiết bị, lao ñộng…lớn hơn nhiều so với nông hộ và tạo ra khối lượng hàng hóa nhiều.
Mặt khác muốn ñạt lợi nhuận cao thì phải tập trung hóa và chuyên môn hóa. Trình ñộ áp dụng khoa học – kỹ thuật Mức ñộ ñầu tư công nghệ và trình ñộ công nghệ ñược các trang trại ñưa vào sử dụng càng cao, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, ñầu tư trang bị và áp dụng những kỹ thuật mới cho việc SXKD nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm ñể có sức cạnh tranh trên thị trường từ tư duy ñến trình ñộ kỹ thuật, quản lý và phong cách làm ăn mới trong nền kinh tế thị trường ñáp ứng nhu nhu cầu tất yếu của công cuộc CNH-HðH nông nghiệp, nông thôn. Mối quan hệ với thị trường ðối với trang trại nói chung, trang trại trồng trọt nói riêng việc hạch toán dưới hình thức giá trị là tối cần thiết. Hoạt ñộng sản xuất kinh doanh phải luôn gắn chặt với thị trường, lấy thị trường và lợi nhuận là mục tiêu, là ñích cuối cùng cho hoạt ñộng SXKD của mình.
Do vậy, chủ trang trại phải luôn tìm hiểu, nghiên cứu thị trường trong và ngoài vùng, từ ñó xác ñịnh ñược nhu cầu của thị trường ñể có chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp với trang trại của mình. Chủ trang trại là nhà kinh doanh Chủ trang trại là người có ñầu óc tổ chức kinh doanh, biết hạch toán lỗ, lãi, có khao khát và tham vọng làm giàu. Tuy không hình thành bộ máy tổ chức quản lý, chủ yếu là sử dụng lao ðộng của gia ðình, việc thuê mướn lao Luan van 14 ñộng chỉ phát sinh khi thực sự cần thiết với quy mô hạn chế. Hiện nay, một số trang trại quy mô tương ñối lớn ñã thuê lao ñộng thường xuyên.
Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển trang trại trồng trọt a. Về mặt kinh tế Các trang trại trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hóa, tập trung hàng hóa và thâm canh cao. Mặt khác qua thúc ñẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, trang trại trồng trọt góp phần thúc ñẩy phát triển công nghiệp, ñặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. - Phát triển trang trại trồng trọt sẽ làm tăng giá trị sản xuất ngành trồng trọt Lợi thế về quy mô của các trang trại trồng trọt (quy mô ñất ñai, quy mô lao ñộng…) giúp các trang trại trồng trọt tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn.
Trang trại trồng trọt có ñiều kiện thuận lợi trong việc giảm giá thành các yếu tố ñầu vào và cả trong quản lý, tiêu thụ sản phẩm, ñặc biệt là dễ dàng hơn khi áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, sử dụng máy móc, trang thiết bị hiện ñại trong hoạt ñộng sản xuất. Cũng nhờ quy mô lớn, chuyên môn hóa cao, cũng với tính chất sản xuất hàng hóa mà sản phẩm của trang trại trồng trọt là những sản phẩm có giá trị cao. Thông thường thì người làm trang trại hiểu rõ mục ñích sản xuất của mình là cung cấp cho thị trường nên họ chỉ chọn kinh doanh những loại cây trồng sao cho có hiệu quả kinh tế cao, ñáp ứng yêu cầu mà thị trường ñòi hỏi. Hơn thế nữa, sản phẩm làm ra thường có giá thành cạnh tranh, chất lượng ñồng ñều, có khả năng cung cấp với khối lượng lớn nên thường dễ ñược các cơ sở chế biến và người tiêu dùng chấp nhận.
Giá trị sản phẩm cao không chỉ Luan van 15 ñem lại thu nhập cho chủ trang trại mà trong phạm vi toàn ngành, nó sẽ là phần ñóng góp ñáng kể ñể gia tăng giá trị sản xuất ngành trồng trọt nói riêng và nông nghiệp nói chung. Phát triển trang trại trồng trọt ñẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện ñại hóa nông nghiệp nông thôn Sản xuất nông nghiệp là ñầu vào quan trọng của các ngành công nghiệp, ñặc biệt là công nghiệp chế biến. Rõ ràng là khối lượng, chất lượng, giá cả nông sản cung cấp cho một nhà máy chế biến thực phẩm nào ñó sẽ quyết ñịnh tính cạnh tranh của sản phẩm nhà máy này.