CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ TRANG TRẠI VÀ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI 1. Một số khái niệm a. Trang trại Trên thế giới, người ta thường dùng các thuật ngữ: Ferme (tiếng Pháp), Farm (tiếng Anh),.
ñể chỉ trang trại (tiếng Việt). Các thuật ngữ trên ñược hiểu chung là nông dân, chủ trang trại, người nông dân gắn với ruộng ñất, với ñất ñai nói chung. Về bản chất, “trang trại” là thuật ngữ gắn liền với hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trên một diện tích ruộng ñất ñủ lớn nhằm sản xuất nông sản phẩm hang hoá với quy mô gia ñình là chủ yếu. Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học kinh tế, trang trại ñược nhìn nhận dưới nhiều góc ñộ khác nhau, thể hiện qua nhiều khái niệm.
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục ñích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể ñộc lập. Sản xuất ñược tiến hành trên quy mô ruộng ñất và các yếu tố sản xuất ñược tập trung tương ñối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình ñộ kỹ thuật cao, hoạt ñộng tự chủ và luôn gắn với thị trường. Theo PGS Trần ðức: “Trang trại là chủ lực của các tổ chức làm nông nghiệp ở các nước tư bản cũng như các nước ñang phát triển” [7] Theo TS Trần Kiên: “Trang trại là một ñơn vị kinh tế hộ gia ñình có tư cách pháp nhân, ñược Nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích ñất ñai, rừng, biển hợp lý; ñể tổ chức lại quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá – hiện ñại hoá; tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật Luan van 8 và công nghê mới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hơn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của từng ñơn vị diện tích, góp phần xoá ñói giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc song của mọi người tham gia” [14] Nghị quyết 03/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ ñã xác ñịnh: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia ñình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản. Mặc dù nhiều tác giả ñã ñưa ra những khái niệm khác nhau nhưng vẫn thống nhất cho rằng: trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá ở mức cao hơn kinh tế hộ về cả quy mô, lẫn hình thức quản lý.
Phát triển trang trại Trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của trang trại và những mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt ñộng sản xuất kinh doanh của trang trại. Như vậy, phát triển trang trại có thể hiểu là quá trình tăng cường các yếu tố vật chất của trang trại cả về mặt số lượng và chất lượng, ñồng thời là quá trình giải quyết hài hoà hơn các mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt ñộng sản xuất kinh doanh của trang trại. Phát triển trang trại phải ñược ñặt trong mối quan hệ hài hoà giữa yếu tố kinh tế, yếu tố xã hội và bảo vệ môi trường. Phát triển trang trại: Phát triển trang trại là việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực ñất ñai, vốn, lao ñộng, kĩ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu ñi ñôi với xóa ñói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới giàu ñẹp.
Trong ñiều kiện kinh tế thị trường, trang trại mang ñầy ñủ và thể hiện rõ những ñặc ñiểm nêu trong khái niệm trên. Tuy nhiên, ở mỗi nước, trong Luan van 9 mỗi giai ñoạn cụ thể, tùy theo ñiều kiện và trình ñộ phát triển cụ thể của nền kinh tế mà những ñặc ñiểm trên có thể biểu hiện ở những mức ñộ khác nhau. ðặc trưng của trang trại a. Mục ñích cơ bản là sản xuất nông sản phẩm hàng hoá cho thị trường Tỷ suất hàng hoá càng cao càng thể hiện bản chất và trình ñộ phát triển của trang trại.
Sản xuất nông nghiệp theo kiểu truyền thống tự cung, tự cấp chỉ giải quyết nhu cầu của chính người sản xuất, lượng sản phẩm dư thừa ñem bán trên thị trường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với khối lượng nông sản mà họ sản xuất ra. Các hộ nông dân cũng cố gắng bán bất kỳ thứ nông sản nào do chính bản thân họ sản xuất ra – giai ñoạn này gọi là thương mại hoá sản phẩm. Sau ñó, hộ nông dân sản xuất hàng hoá theo yêu cầu của thị trường – ñó là giai ñoạn sản xuất hàng hoá của hộ ñã ñạt tới một trình ñộ cao ñể thích ứng với nhu cầu của thị trường. Tới khi sản xuất hàng hoá khu vực nông thôn ñã ñạt ñến một cấp ñộ cao hơn, một bộ phận nông dân ñã phát triển ñến hình thức sản xuất theo mô hình trang trại.
ðặc trưng về mục ñích sản xuất hàng hoá là ñặc trưng quan trọng nhất, bởi vì mục ñích sản xuất hàng hoá chi phối và ảnh hưởng rất lớn, thậm chí quyết ñịnh tới tất cả các ñặc trưng khác của trang trại. ðặc trưng về mục ñích sản xuất hàng hoá có thể biểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu như giá trị sản xuất hàng hoá (nông - lâm - thuỷ sản) ñược tạo ra trong một năm của trang trại, tỷ suất hàng hoá của trang trại. Tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của người chủ ñộc lập Người chủ ñộc lập ở ñây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt ñộng sản xuất kinh doanh. Rõ ràng, về ñiều kiện sản xuất hàng hoá của trang trại thoả mãn ñiều kiện ñể sản xuất hàng hoá.
Người chủ trang trại là người Luan van 10 nắm giữ một phần hoặc toàn phần quyền sở hữu về tài sản, nếu như nắm quyền sử dụng tài sản, thì tài sản này có thể ñược hình thành dưới hình thức vốn góp hoặc ñi thuê tài sản tài chính, như vậy xét dưới góc ñộ là tài sản của trang trại, thì tài sản dù ñược hình thành bằng cách nào, nó vẫn thuộc quyền sử dụng của trang trại, có thể tạo ra lợi ích về kinh tế trong tương lai. ðứng trên khía cạnh của quan hệ sản xuất, người chủ trang trại là người có quyền ñịnh ñoạt sản phẩm do trang trại mình sản xuất ra. Các yếu tố sản xuất, trước hết là ruộng ñất và tiền vốn ñược tập trung với quy mô nhất ñịnh theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hoá Trong nông nghiệp cũng như các ngành sản xuất vật chất khác, sản xuất hàng hoá chỉ có thể ñược tiến hàng khi các yếu tố sản xuất ñược tập trung ñến quy mô nào ñó. Do ñó, ở các trang trại, sản xuất hàng hoá chỉ có thể ñược thực hiện khi ruộng ñất, tiền vốn, tư liệu sản xuất… ñược tập trung tới quy mô cần thiết.
ðặc trưng này ñược quy ñịnh bởi chính ñặc trưng về mục ñích sản xuất của trang trại. ðặc trưng về sự tập trung các yếu tố sản xuất của trang trại có thể biểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu như quy mô diện tích ruộng ñất hoặc số lượng gia súc, gia cầm… và quy mô vốn ñầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại. Cách tổ chức và quản lý ñi dần vào phương thức kinh doanh, song trực tiếp, ñơn giản và gọn nhẹ, vừa mang tính gia ñình, vừa mang tính doanh nghiệp Một khi ñã coi sản xuất hàng hoá là hướng ñi chính, mục tiêu ổn ñịnh, lợi nhuận lâu dài thì ñòi hỏi phải có phương án hợp lý lựa chọn vật nuôi, cây trồng, quy hoạch ruộng ñất, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật sản xuất, áp dụng công nghệ mới vào quy trình sản xuất thâm canh… Luan van 11 e. Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp và có hiểu biết nhất ñịnh về kinh doanh, về thị trường Người chủ trang trại là người có những tố chức cần thiết ñể tổ chức và quản lý hoạt ñộng sản xuất kinh doanh của trang trại.
Những yếu tố cần thiết và chủ yếu của trang trại như là người có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông, có năng lực tổ chức quản lý sản xuất, có kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, ñồng thời có hiểu biết nhất ñịnh về hạch toán, phân tích kinh doanh, tiếp cận thị trường… Mức ñộ hoàn thiện các tố chất gắn liền với các giai ñoạn phát triển của trang trại. Các chủ trang trại cần tiếp cận thị trường, hiểu biết về thị trường, phải có chiến lược và thực hiện linh hoạt trong kinh doanh nhằm ñứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường, chủ ñộng trong cạnh tranh. Vai trò của trang trại Trong nền nông nghiệp thế giới, trang trại là hình thức tổ chức cơ sở chủ yếu. Ở nước ta, mặc dù mới ñược phát triển nhưng trang trại ñã thể hiện vai trò quan trọng và tích cực không những về kinh tế mà còn cả về xã hội và môi trường.
Về mặt kinh tế, các trang trại ñã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, manh mún tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hoá và thâm canh cao. Mặt khác, qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại góp phần thúc ñẩy phát triển công nghiệp, ñặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ cho sản xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy, việc phát triển trang trại ở những nơi có ñiều kiện bao giờ cũng ñi liền với việc khai thác và sử dụng một cách ñầy ñủ và hiệu quả hơn các nguồn lực trong Luan van 12 nông nghiệp nông thôn. Do vậy, phát triển trang trại góp phần tích cực thúc ñẩy sự tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, nông thôn và kinh tế hộ.
Phát triển trang trại ñã mở ra hướng làm ăn mới ñược ñông ñảo hộ gia ñình nông dân tham gia, hình thành ñội ngũ nông dân năng ñộng, dám nghĩ, dám làm, ñoàn kết kinh tế giữa các chủ trang trại với nhau và giữa các trang trại với hợp tác xã, doanh nghiệp ñược phát triển và ngày càng bền vững hơn.