Chương 1 PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở TỈNH HÀ GIANG - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở TỈNH HÀ GIANG 1. Khái quát tình hình kinh tế-xã hội và Đảng bộ tỉnh Hà Giang. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang Hà giang được thành lập ngày 20/8/1891.
Là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế và an ninh quốc phòng của cả nước. Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ tổ quốc, Hà Giang luôn là phên dậu, là trấn biên bảo vệ tổ quốc việt nam ở biên giới phía bắc. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc tỉnh Hà Giang đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách của thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Là tỉnh miền núi cao biên giới phía bắc và là nơi địa đầu của tổ quốc, với diện tích tự nhiên là 7.
Phía bắc và tây bắc giáp nước Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa. Phía đông giáp tỉnh Cao Bằng. Phía tây giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái. Phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang.
Thực hiện NQ của Quốc Hội khoá V kỳ họp thứ 2 ngày 27/12/1975 về việc giải thể các khu tự trị, hợp nhất các tỉnh. Đầu tháng 4 năm 1976 tỉnh Hà Tuyên được thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Sau 15 năm, để phù hợp với tình hình mới, ngày 12/8/1991 Quốc Hội khoá VIII đã họp và quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Hiện nay toàn tỉnh có 195 xã, phường, thị trấn; với 10 huyện và 1 thành phố, gồm Thành phố Hà Giang và các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo vạc, Bắc mê, Bắc quang, Quang bình, Vị xuyên, Xín Mần, Hoàng Su Phìn, trung tâm tỉnh đặt tại thành phố Hà giang.
Hà Giang có 22 dân tộc, Hà Giang không có điều kiện “mưa thuận, gió hòa” nhưng được coi 10 là “đất lành cho chim đậu”. Trước Cách mạng Tháng Tám Hà Giang chỉ có trên 10 vạn dân. Hiện nay với tổng số dân là 724.537 người, theo điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009. Bao gồm dân tộc: Mông (chiếm 32,0 % tổng dân số toàn tỉnh), Tày (23,3 %), Dao (15,1 %), Việt (13,3 %), Nùng (9,9 %).
mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng của mình từ ngôn ngữ, nơi cư trú, hoạt động kinh tế, phong tục tập quán trong đời sống văn hoá. Nhóm ngôn ngữ chính của cư dân ở Hà Giang là nhóm: Việt - Mường; Tày - Thái; Hmông - Dao; Tạng - Miến; Hoa và các ngôn ngữ khác. Hà Giang là một tỉnh miền núi cao điều kiện tự nhiên không thuận lợi, những yếu tố kìm hãm, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội còn rất lớn. Mặc dù vậy, sau hơn 20 năm đổi mới, đặc biệt là từ khi chia tách tỉnh (1991), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã lập được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế.
Đời sống của nhân dân từng bước được ổn định, cải thiện; chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng; kết cấu hạ tầng được quan tâm xây dựng và tu bổ. Giao thông được coi là “huyết mạch kinh tế”. Trước đổi mới kinh tế Hà Giang chủ yếu là nông - lâm, sản xuất hàng hóa nhỏ, nhiều vùng còn sản xuất độc canh, tự cấp tự túc, kinh tế chậm phát triển. Sau đổi mới, nhất là từ khi tái lập tỉnh đến nay kinh tế Hà Giang đã có sự chuyển biến tích cực.
Trong sự nghiệp đổi mới Hà Giang đã có bước phát triển về mọi mặt. Đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, giá trị tăng thêm của nền kinh tế đạt tốc độ tăng bình quân năm 12,7%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng các ngành nông - lâm nghiệp.
Thu nhập bình quân đầu người đạt 7,5 triệu đồng/người/năm, tăng 4,3 triệu đồng so với năm 2005. Thu ngân sách trên địa bàn tăng mạnh, đạt trên 600 tỷ đồng (tăng gần gấp 3 lần so với năm 2005, vượt trên 200 tỷ đồng so với Nghị quyết). An ninh lương thực từng bước được đảm bảo, bình quân lương thực đầu người đạt 460 kg (tăng 90 kg so với NQ, tăng 95 kg so với năm 2005). Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá thực tế) đạt 1.300 tỷ 11 đồng, gấp 3,5 lần so với năm 2005.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ thị trường xã hội đạt 2. Với sự cố gắng vươn lên; năng động, sáng tạo; khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực đầu tư; tổ chức thực hiện với sự đồng thuận, quyết tâm chính trị cao, nên đã giành được những thành tựu to lớn và tương đối toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Thành tựu nổi bật là: Đã thanh toán xong nợ cũ xây dựng cơ bản từ 2005 trở về trước; duy trì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ở mức độ cao. Đổi mới mạnh mẽ và đem lại hiệu quả cao trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, như: Phát triển chăn nuôi đại gia súc, trồng rừng kinh tế, trồng cây cao su, cây cải dầu,vv.
có tác động tích cực làm thay đổi mô hình, phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Phát huy nội lực, khai thác, quản lý và sử dụng lồng ghép có hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn vốn của Trung ương để xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo ra diện mạo mới từ nông thôn đến thành thị. Bước đầu đã thu hút được các thành phần kinh tế đầu tư vào một số lĩnh vực thế mạnh của tỉnh như: Thuỷ điện, khoáng sản, dịch vụ, du lịch. Hoàn thành phân giới cắm mốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, đảm bảo biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Công tác cán bộ có sự đổi mới và chuyển biến tích cực. Những thành tựu đạt được trong những năm vừa qua, chính là kết quả, sự kế thừa và phát huy những thành quả của 25 năm đổi mới; 20 năm thực hiện cương lĩnh của Đảng; 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Góp phần quan trọng đưa Hà Giang từ một tỉnh nghèo nàn, lạc hậu; kinh tế chủ yếu là tự cung, tự cấp; phức tạp về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, vv.trở thành một tỉnh có kinh tế - xã hội ổn định và từng bước phát triển; hạ tầng cơ sở từng bước được bổ sung và cải thiện; quốc phòng - an ninh được giữ vững; hệ thống chính trị được xây dựng và củng cố vững mạnh. Tuy nhiên, thành tựu mà tỉnh đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; Nguồn ngân sách của Hà Giang vẫn do Trung ương cấp là 12 chính.
Tỷ lệ thu ngân sách từ kinh tế địa phương chỉ chiếm trên 10% so với tổng thu ngân sách. Mức chi cho đầu tư phát triển hàng năm đều tăng, song so với nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển vẫn chưa đáp ứng được, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều mặt hạn chế; kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo còn lớn; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; mức thu nhập bình quân đầu người/năm còn thấp so với bình quân chung của cả nước và khu vực; trình độ phát triển so với một số tỉnh trong khu vực còn có những khoảng cách đáng kể; tỉnh có 6 huyện/62 huyện đặc biệt khó khăn, nghèo nhất cả nước, vv.Vì vậy, “Hà Giang vẫn là tỉnh nghèo, chưa thoát ra khỏi tình trạng của một tỉnh đặc biệt khó khăn”. Là một tỉnh nghèo, nhu cầu đầu tư lớn, nhưng nguồn lực hạn hẹp đặc biệt là vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương, huy động các nguồn lực còn gặp nhiều khó khăn. Chưa khai thác tốt các tiềm năng của địa phương, chưa có giải pháp để biến khó khăn thành cơ hội phát triển.
Những khó khăn này gây cản trở lớn đến sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang. Khái quát Đảng bộ tỉnh Hà Giang Đảng bộ tỉnh Hà Giang từ khi ra đời đến nay đã trải qua 15 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội đều đánh dấu những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử của Đảng bộ tỉnh Hà Giang. Mỗi kỳ Đại hội như những mốc son mới khẳng định sự vững bền, lớn mạnh của Đảng bộ qua từng thời kỳ cùng với cả nước trường kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sau mỗi một mốc son, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, chính quyền và đồng bào nhân dân các dân tộc Hà Giang đã đạt được những thắng lợi kỳ diệu trên mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Sau khi giành được chính quyền và thành lập được chính quyền dân chủ nhân dân, vào ngày 25.1945 Đảng bộ tỉnh Hà Giang ra đời, thực hiện những nhiệm vụ cấp bách mà Đảng và Bác Hồ kêu gọi để xây dựng và củng 13 cố chế độ mới. Đảng bộ tỉnh ra đời đánh dấu một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử phát triển của đồng bào các dân tộc Hà Giang. Trong giai đoạn từ 1945 đến 1975, Đảng bộ tỉnh đã trải qua 6 kỳ Đại hội.
Đại hội lần thứ I được tổ chức trong 3 ngày từ ngày 10 đến ngày 13. Dự Đại hội có 93 đại biểu thay mặt cho 1.355 đảng viên trong toàn tỉnh. Báo cáo chính trị trình Đại hội nêu rõ: “Đảng bộ đã quyết định thanh toán nạn mù chữ cho đảng viên. Những đảng viên đã thoát nạn mù chữ phải cố gắng tiếp tục học văn hóa để mỗi năm lên một lớp.
Nhân dân các dân tộc Hà Giang hăng hái thi đua nâng diện tích Đông - Xuân 1950 - 1951 lên gấp đôi diện tích Đông - Xuân 1949 - 1950. Các chiến sỹ ngoài mặt trận đã dũng cảm quyết tâm chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt quân xâm lược Pháp và tay sai ở Hoàng Su Phì và Yên Bình. Đại hội diễn ra trong thời điểm toàn dân tộc đang giành được những thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.