CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp khởi nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp khởi nghiệp Khái niệm DNKN đã tồn tại từ rất lâu và đã diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới từ hàng trăm năm nay, tuy nhiên cho đến nay chưa có một khái niệm chung về loại hình doanh nghiệp này mà tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển để đưa ra nhưng quy định về DNKN. Theo tác giả Hoàng Quang Tuyền thì “doanh nghiệp khởi nghiệp là một loại hình doanh nghiệp có thể dưới dạng một công ty, một hiệp hội hay thậm chí một tổ chức tạm thời được thiết lập để mưu tìm một mô hình kinh doanh ăn khách và linh hoạt”.
Hiện nay, nhiều người đang coi DNKN chỉ là dạng công ty công nghệ. Nhưng khi công nghệ đang dần trở thành yếu tố đương nhiên, thì khi nói đến DNKN ta phải nhấn mạnh đến ba tính chất quan trọng của nó là: có sáng kiến đổi mới, quy mô linh hoạt, tăng trưởng nhanh. Thêm vào đó, Steve và Bob giải thích chữ “mưu tìm” trong định nghĩa trên có hai ý: một là từ doanh nghiệp nhỏ chẳng hạn một quán café, trong một thị trường đầy quán sá, hướng đến trở thành công ty khác biệt lớn, hay giá trị cao; hai là tìm cách thực hiện chiến lược kinh doanh đổi mới để có thể khoan thủng thị trường hiện tại, như trường hợp của Pepsi, Amazon hay Google. Ngoài ra, theo quy định trong Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa 14 thì khởi nghiệp được hiểu là “quá trình hiện thực ý tưởng kinh doanh, bao gồm quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp trong vòng 5 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán”.
Bên cạnh đó, theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại lễ phát động chương trình Thanh niên khởi nghiệp giai đoạn 2016-2021 cho rằng, khởi nghiệp chính là “việc thực hiện một ý tưởng sáng tạo về kinh doanh hay công nghệ, có thể là một ý tưởng giải quyết một bài toán xã hội trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ nông nghiệp đến dịch vụ, xóa đói giảm nghèo, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế…” Nhìn chung, trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập kinh tế và sự phát triển của khoa học công nghệ góp phần thúc đẩy thế giới hội nhập nhanh hơn, rộng hơn, đa dạng hơn và thế giới cũng trở nên “phẳng hơn” thì chúng ta không nên cứng nhắc đóng khung khái niệm khởi nghiệp sơ khởi mà nên hiểu và áp dụng nó một cách rộng rãi hơn. Trong phạm vi của khóa luận thì việc bạn cung cấp những sản phẩm mới, dịch vụ mới hay thậm chí kinh doanh những mặt hàng đã có mặt trên thị trường nhưng theo ý tưởng mới, sáng tạo, linh hoạt của riêng mình đều được gọi là doanh nghiệp khởi nghiệp. Đặc điểm của doanh nghiệp khởi nghiệp Những đặc điểm thuộc về thế mạnh của DNKN: - Thứ nhất, DNKN có thể tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nước. Với quy mô và lượng lao động linh hoạt, các DNKN dễ dàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh tế khác nhau mà các DN lớn không muốn tham gia hoặc không thể tham gia.
Có thể thấy, các sản phẩm mà DNKN cung cấp ra thị trường khá đa dạng và phong phú về chủng loại, mẫu mã, trải rộng khắp các lĩnh vực từ nông lâm nghiệp tới công nghiệp, dịch vụ và thương mại điện tử. Điểm mạnh của DNKN là có khả năng đưa ra những sản phẩm dịch vụ chuyên biệt, đặc chế cho một đối tượng khách hàng. - Thứ hai, DNKN có khả năng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm. Xuất phát từ những ý tưởng đổi mới sáng tạo, các DN có thể mạnh dạn tham gia vào những ngành mới, lợi nhuận ban đầu thấp hoặc những ngành sản xuất ra những sản phẩm chỉ đáp ứng những nhu cầu cá biệt.
Từ đó họ sẽ là những người khai phá thị trường và hướng tới thống lĩnh thị trường. - Thứ ba, DNKN sẽ không đặt ra giới hạn cho sự tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng, họ có tham vọng phát triển đến mức lớn nhất, tạo ra một mô hình kinh doanh mang tính toàn cầu và nhân bản nó ra khắp thế giới. - Thứ tư, DNKN có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi của thị trường. Khi không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình sản xuất, kinh doanh này thì doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường.
- Thứ năm, các DNKN thường có bộ máy tổ chức sản xuất, quản lý gọn nhẹ, công tác quản lý điều hành mang tính trực tiếp, quan hệ giữa người quản lý với người lao động khá chặt chẽ. Các quyết định được đưa ra và thực hiện nhanh chóng nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp. Những đặc điểm hạn chế của DNKN - Thứ nhất, doanh thu có thể cần đến nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để quay vòng vốn. Nhưng nếu kế hoạch thành công, lợi nhuận tài chính có thể rất khổng lồ.
- Thứ hai, quy mô vốn và năng lực tài chính còn hạn chế nên DNKN khó tiếp cận các kênh huy động vốn, đặc biệt là các khoản vay từ ngân hàng do thủ tục phức tạp và phải căn cứ lịch sử tín dụng cũng như tài sản thế chấp. 7 - Thứ ba, vòng đời công ty thường ngắn: theo Mandela Schumacher-Hodge, một gương mặt trong danh sách Forbes 30 Under 30 nghiên cứu và chỉ ra rằng 92% các DNKN sẽ thất bại trong ba năm đầu. - Thứ tư, sự liên kết giữa các DNKN còn hạn chế. Tuy bước đầu đã có một số hiệp hội, tổ chức ra đời tập hợp các DNKN nhưng mới chỉ ở mức trao đổi kinh nghiệm, cùng đưa ra kiến nghị về chính sách, pháp luật.
Phần lớn các DNKN chưa có sự liên kết chặt chẽ trong hoạt động sản xuất hay hỗ trợ nhau về vốn, công nghệ, kỹ thuật nhằm nâng cao sức cạnh tranh. Mặt khác, sự hợp tác giữa các DN lớn và DNKN còn gặp nhiều vướng mắc nên chưa khai thác được lợi thế về quy mô giữa hai loại hình DN này. - Thứ năm, năng lực quản lý còn thấp: các DNKN của Việt Nam hiện nay thường được dẫn dắt bởi các bạn trẻ là các team leader (trưởng nhóm) mà thiếu đi các tố chất của một doanh nhân. Trong khi đó, để có thể thành công, các DNKN không chỉ trang bị tri thức về làm sản phẩm mà còn phải có những kỹ năng quản trị.
Bên cạnh đó, việc thiếu những kỹ năng về truyền thông, marketing… khiến các DNKN khó đưa ra một sản phẩm thành công. Vai trò của doanh nghiệp khởi nghiệp đối với nền kinh tế DNKN đóng góp đáng kể trong quá trình tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Các DNKN hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của người tiêu dùng. Theo hiệp hội khởi nghiệp quốc gia của Việt Nam, từ năm 2010 đến nay, cho dù khủng hoảng kinh tế, mỗi năm Việt Nam cũng có khoảng trên 70,000 doanh nghiệp mới được thành lập.
Có thể thấy, các DNKN đang ngày càng được coi trọng bởi tác động to lớn của nó trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước. Thứ nhất, DNKN đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng và tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Hiện nước ta có trên 600,000 doanh nghiệp, trong đó DNKN khoảng 3,000, thu hút đầu tư mỗi năm khoảng 300 triệu USD, sử dụng trên 25% lao động có việc làm thường xuyên, tạo thêm 10% việc làm mới - số liệu thực tế này đã cho thấy sự đóng góp của DNKN đối với nền kinh tế. Với yêu cầu về vốn đăng ký thành lập không lớn nên DNKN thành lập dễ dàng, tuy mỗi DNKN không sử dụng số lượng lớn lao động nhưng với một tỷ trọng tương đối trong nền kinh tế nên bộ phận doanh nghiệp này mỗi năm đã giải quyết việc làm cho khoảng 1/5 lực lượng lao động xã hội.
Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, vai trò của DNKN xét trên góc độ giải quyết việc làm càng thể hiện rõ nét do các doanh nghiệp lớn phải cắt giảm lao động nhằm giảm chi phí sản xuất ứng phó với điều kiện thị trường bị thu hẹp. Ngược lại, các DNKN với đặc tính linh hoạt, dễ thích ứng với thay đổi của thị trường nên vẫn có thể duy trì hoạt động, vì vậy, Hội đồng doanh 8 nghiệp thế giới khẳng định: “DNKN sẽ là lực lượng doanh nghiệp tiên phong, có tăng trưởng cao để đóng góp hiệu quả vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước”. Thứ hai, DNKN là trụ cột kinh tế của địa bàn tại chỗ. Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế lớn thì DNKN có mặt ở khắp các địa phương, tận dụng được cơ hội khai thác tiềm năng và thế mạnh vốn có của từng địa bàn nơi đóng trụ sở sản xuất kinh doanh.
Sự tồn tại và hoạt động của DNKN đã góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi, cân đối ở các vùng, miền, giải quyết được vấn đề an sinh xã hội của địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Đặc biệt là đối với các làng nghề truyền thống, các DNKN hoạt động sẽ mở rộng quy mô sản xuất, duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm truyền thống, tập hợp và đào tạo lực lượng lao động tay nghề giỏi, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình khôi phục và phát triển làng nghề theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Thứ ba, DNKN có khả năng thu hút, tận dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả. Vốn là yếu tố có vai trò tiên quyết trong hoạt động của các DNKN.
Để khởi sự và duy trì, phát triển sản xuất kinh doanh, các DNKN không chỉ vay vốn từ ngân hàng, kêu gọi các quỹ đầu tư, mà còn huy động vốn trong dân cư thông qua các mối quan hệ cá nhân của doanh nghiệp.