Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phát triển tín dụng bán lẻ tại các NHTM Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh 9 Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh 9 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý thuyết về tín dụng bán lẻ tại các NHTM Trước tiên, tác giả làm rõ các khái niệm về tín dụng và tín dụng ngân hàng dựa trên quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước để có sự nhìn nhận khái quát về các hoạt động cho vay của ngân hàng.1 Khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng Theo Hồ Diệu (2000): Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009): Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009): Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các tổ chức kinh tế, các tổ chức kinh tế và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng trên. Theo Jonothan Golin (2010): Tín dụng là niềm tin hoặc kỳ vọng thực tế, khi đó người đi vay sẵn sàng cho vay và sẽ được hoàn trả đầy đủ theo quy định của thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay vốn và rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra.
Theo Nguyễn Đức Tú (2012): Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng, trong đó bên cho vay là các TCTD và bên đi vay là các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội. Như vậy, có nhiều định nghĩa và cách hiểu về tín dụng ngân hàng, nhưng chung quy lại thì nó hàm chứa ba nội dung chính sau: Có sự chuyển nhượng quyền 9 sử dụng vốn từ chủ sở hữu sang người sử dụng; Sự chuyển nhượng này có thời hạn; Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro.2 Khái niệm tín dụng bán lẻ Qua lược khảo lý thuyết liên quan về chủ đề tín dụng ngân hàng, tác giả nhận thấy hiện nay có nhiều khái niệm về TDBL. Tiêu biểu như: Theo Finlay (2005), TDBL chính là việc các tổ chức tín dụng cung cấp cho một cá nhân hoặc hộ gia đình tiền hoặc thanh toán chi phí mua hàng hoá dịch vụ của họ, bao gồm các hình thức: thẻ tín dụng, cho vay thế chấp v.v… đây là những hình thức phổ biến nhất của TDBL. TDBL là hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình thông qua các kênh phân phối khác nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu liên quan đến quá trình sử dụng nguồn tài chính của cá nhân và hộ gia đình trong xã hội (Trần Huy Hoàng và cộng sự, 2011).
Như vậy, TDBL là hình thức cấp tín dụng của NHTM trong đó ngân hàng thỏa thuận để khách hàng là cá nhân, hộ gia đình hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.3 Đặc điểm của tín dụng bán lẻ Nguyễn Quốc Anh và cộng sự (2000) cho rằng, TDBL có các đặc điểm chính sau đây: Quy mô mỗi khoản cho vay nhỏ nhưng số lượng khoản cho vay lớn Các khách hàng tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng thường có nhu cầu vốn không cao. Vì khi muốn mua sắm bất cứ vật dụng gì thì người tiêu dùng thường có một khoản tích lũy từ trước và các vật dụng trong gia đình không có giá trị lớn, kể cả khi người tiêu dùng vay để mua nhà hay mua ô tô nhưng các khoản đó không quá lớn so với một ngân hàng. Tuy quy mô khoản vay là nhỏ nhưng số lượng 1 khoản TDBL lại lớn, vì đối tượng khách hàng của loại hình cho vay này là khách hàng cá nhân và hộ gia đình, thuộc mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. Chất lượng các thông tin kiểm toán của khách hàng vay thường không cao Các thông tin tài chính của khách hàng mà ngân hàng có được thường do chính khách hàng cung cấp và có sự xác minh lại của cán bộ ngân hàng.
Trong khi đó, người đi vay thường có xu hướng nói tốt về mình để đảm bảo được vay vốn và mức cho vay cao nên việc thẩm định thông tin tài chính của khách hàng một cách chính xác là rất khó khăn. Trong khi đó, các thông tin bên ngoài mà cán bộ ngân hàng thu thập được đôi khi vẫn mang tính chất chủ quan. Bên cạnh việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng thì một yếu tố quan trọng mà nhân viên ngân hàng không bao giờ bỏ qua đó là xác định tư cách khách hàng - quyết định thiện chí trả nợ của cá nhân, hộ gia đình. Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
Nếu như khách hàng không trung thực thì kết quả đánh giá không chính xác, ngân hàng đưa ra quyết định sai lầm và một lựa chọn đối nghịch được đưa ra, rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi. Nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nguồn tài chính để trả các khoản vay tiêu dùng không là lợi nhuận hay bắt nguồn từ khoản cho vay mang lại, mà là được trả từ một nguồn khác độc lập với khoản vay, đó là thu nhập của người đi vay. Sự ổn định thu nhập phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này và phụ thuộc vào các nhân tố khách quan như chu kì kinh tế, sự biến đổi của cơ cấu kinh tế. Các nhân tố này lại thay đổi giữa các khách hàng, hoàn toàn không có một mức quy định cụ thể.
1 Quy mô TDBL nhỏ nên lãi suất cao Quy mô của từng khoản vay tiêu dùng thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất TDBL thường cao hơn so với lãi suất các khoản vay trong lĩnh vực khác như thương mại hay sản xuất công nghiệp.4 Các sản phẩm tín dụng bán lẻ chủ yếu Theo Trần Huy Hoàng và cộng sự (2011), có nhiều cách để phân chia sản phẩm tín dụng bán lẻ thành các nhóm khác nhau. Cụ thể: Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng bán lẻ được phân làm hai loại, đó là tín dụng tiêu dùng và tín dụng sản xuất kinh doanh. + Tín dụng tiêu dùng: Là các khoản tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp họ trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ, nhu cầu về y tế, giáo dục, du lịch….
+ Tín dụng sản xuất kinh doanh: Là hình thức cho vay nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình. Thời gian cho vay bao gồm cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cho vay sản xuất kinh doanh cũng bao gồm hai hình thức là tín chấp và thế chấp. Đối với hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh thường áp dụng hình thức thế chấp.
Để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá để quản lý, các ngân hàng thường dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân loại TDBL. Theo nhóm tác giả Nguyễn Quốc Anh và cộng sự (2000), TDBL có thể được phân loại theo các tiêu chí sau: Căn cứ vào thời hạn + Tín dụng ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. + Tín dụng trung hạn: là hình thức cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh… 1 + Tín dụng dài hạn: là hình thức cho vay có thời hạn trên 5 năm.
Tín dụng dài hạn là hình thức tín dụng cung cấp tín dụng để đáp ứng nhu cầu dài hạn như: xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới… Căn cứ vào hình thức bảo đảm tín dụng + Tín dụng không có tài sản đảm bảo: là hình thức cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, khách hàng tiềm năng, có khả năng tài chính mạnh, có quan hệ lâu dài với ngân hàng…thì ngân hàng có thể cấp tín dụng theo hình thức này. + Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản: là hình thức cho vay mà để được vay thì người đi vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có sự bảo đảm.
Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có một nguồn thu thứ hai bổ sung khi nguồn thu thứ nhất không đầy đủ. Đồng thời, tài sản thế chấp này bảo đảm cho khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích cam kết. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng + Tín dụng trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho những người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. + Tín dụng gián tiếp: là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như chiết khấu thương mại, mua nợ…ngoài ra, ngân hàng còn cho vay dưới hình thức bảo lãnh.