CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng bán lẻ “Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng thương mại, phản ánh đặc trưng của ngân hàng” (Theo giáo trình Ngân hàng thương mại của PGS. TS Phan Thị Thu Hà - 2017) “Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” (Theo Luật các tổ chức tín dụng – 2010) Trong đó, “Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng” (Theo sách giáo trình Ngân hàng thương mại) TDBL là một khái niệm còn nhiều định nghĩa chưa thống nhất ở nước ta hiện nay. Sự khác biệt trong cách định nghĩa chủ yếu dựa vào loại hình dịch vụ hoặc nhóm đối tượng mà sản phẩm ngân hàng hướng tới. Do đó trước hết cần hiểu rõ về NHBL. Cụm từ “Ngân hàng bán lẻ” được xuất phát từ cụm từ “Retail banking”.
Theo từ điển giải nghĩa tài chính thì “Ngân hàng bán lẻ còn được gọi là ngân hàng tiêu dùng, là cung cấp dịch vụ của một ngân hàng cho công chúng, thay vì các công ty, tập đoàn hoặc ngân hàng khác, thường được mô tả là ngân hàng bán buôn. Các dịch vụ ngân hàng được coi là bán lẻ bao gồm cung cấp các khoản tiết kiệm và các tài khoản giao dịch, các khoản thế chấp, các khoản vay cá nhân, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng. Ngân hàng bán lẻ cũng phân biệt với ngân hàng đầu tư hoặc ngân hàng 7 thương mại. Nó cũng có thể ám chỉ đến một bộ phận hoặc một bộ phận của một ngân hàng giao dịch với khách hàng cá nhân”.
Lê Khắc Trí (2007) “tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa” Do đó, tác giả cho rằng TDBL là hình thức cấp tín dụng bằng các nghiệp vụ như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu… cho các khách hàng thuộc phân khúc KHBL phục vụ nhu cầu vốn của khách hàng trong SXKD, tiêu dùng… Trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu về TDBL chủ yếu nghiên cứu nghiệp nghiệp vụ cho vay đối với KHCN, HGĐ và DNSVM 1. Vai trò của tín dụng bán lẻ 1.Đối với nền kinh tế Nhìn chung, tín dụng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra, vai trò của TDBL còn thể hiện như sau: TDBL giúp thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn, tập trung vốn SKXKD, giảm thất nghiệp và góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư. TDBL giúp kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy quá trình tái sản xuất.
Với các sản phẩm tín dụng (SPTD) tiêu dùng như thẻ, cho vay mua ô tô, cho vay mua nhà dự án, cho vay xây dựng sửa chữa nhà ở…, TDBL kích thích người tiêu dùng chi tiêu, qua đó thúc đẩy các KHDN tăng mức đầu tư để gia tăng năng lực sản xuất, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, TDBL còn góp phần đẩy lùi nạn tín dụng đen trong nền kinh tế. TDBL phát triển giúp cho người dân và các DNVVN dễ dàng tiếp cận với các gói tín dụng, các SPDV linh hoạt phù hợp với nhu cầu của mình, hạn chế rủi ro từ việc vay nợ lãi quá cao.Đối với Ngân hàng TDBL nói chung đang là xu thế phát triển hiện đại của hệ thống ngân hàng. TDBL giúp cho các NHTM đa dạng hoá HĐKD, phát triển các phân khúc khách 8 hàng tiềm năng, giúp mở rộng thị trường kinh doanh, giúp nâng cao NLCT, phân tán rủi ro, tiếp cận được nhiều khách hàng tiềm năng. TDBL tập trung vào bộ phận KHCN, DNVVN sẽ đem lại cho ngân hàng nguồn lợi nhuận tốt hơn so với tập trung vào tín dụng bán buôn do yếu tố giá cung ứng dịch vụ cao hơn.
Phát triển các SPDV NHBL yêu cầu NHTM đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT), nâng cao CLDV sản phẩm, xây dựng mạng lưới kênh phân phối đa dạng, gia tăng các dịch vụ tiện ích bán chéo sản phẩm đi kèm với tín dụng gồm: huy động vốn, dịch vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền… 1.Đối với khách hàng TDBL tài trợ vốn của cá nhân, HGĐ, DNSVM để tận dụng được nguồn lực về lao động, tài nguyên thiên nhiên, tài sản cố định, con người… một cách có hiệu quả nhất. TDBL kích thích tiêu dùng trong nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu dân cư đồng thời TDBL cũng tạo điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư. Đặc điểm của tín dụng bán lẻ TDBL tập trung phục vụ nhóm đối tượng KHCN, HGĐ, DNVVN có nhu cầu vay vốn để phục vụ hoạt động SXKD, dịch vụ, tiêu dùng đời sống Đối tượng được cung cấp sản phẩm TDBL rất rộng, SLKH lớn, gồm KHCN, HGĐ, và DNVVN trong nền kinh tế. Số lượng các khoản vay nhiều, tuy nhiên giá trị thường tương đối nhỏ.
Chất lượng nguồn thông tin do các khách hàng vay cung cấp thường không cao, khó xác định đối với các KHCN và HGĐ, đối với các DNSVM các BCTC thường không được kiểm toán. So với tín dụng bán buôn, TDBL có tỷ trọng cho vay trung dài hạn cao hơn do các nhu cầu tiêu dùng của KHBL nhiều, dòng tiền không ổn định, khó vay vốn trong ngắn hạn. Do SLKH, số lượng khoản vay lớn nên TDBL có các chi phí bình quân cao hơn so với tín dụng bán buôn, đồng thời do thời gian vay vốn dài, nguồn sử dụng trung dài hạn nhiều nên đối với TDBL, chi phí vốn cao Do các khoản vay có gí trị nhỏ, SLKH lớn, TDBL có khả năng phân tán rủi ro. Phân loại sản phẩm dịch vụ tín dụng bán lẻ Các SPDV TDBL tương đối đa dạng, tuy nhiên nhìn chung, có một số cách phân loại SPDV TDBL như sau: Phân loại dựa theo đối tượng cấp tín dụng Cho vay đối với KHCN, HGĐ: Là các sản phẩm đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ hoạt động SXKD và nhu cầu tiêu dùng của các KHCN và HGĐ.
Cho vay DNSVM: Là các sản phẩm đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động ròng để phục vụ HĐKD của doanh nghiệp, nhu cầu mua sắm, đầu tư xây dựng TSCĐ, cải tiến nâng cấp kỹ thuật, các nhu cầu về bảo lãnh, chiết khấu… Phân loại theo mục đích sử dụng vốn: Cho vay SXKD: Là các sản phẩm đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ hoạt động SXKD của KHCN, HGĐ và các DNSVM Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống: Là các SPTD cấp cho cá nhân để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của KHCN, HGĐ như cho vay mua ô tô tiêu dùng, cho vay mua nhà dự án, cho vay mua nhà đất, xây dựng sửa chữa nhà ở… Phân loại dựa theo thời hạn cấp tín dụng: “Tín dụng ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống chủ yếu tài trợ cho vay lưu động của doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng ngắn hạn hoặc cho vay trên thị trường liên ngân hàng. Tín dụng trung hạn: Từ 1 đến 5 năm, tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị Tín dụng dài hạn: trên 5 năm (có thể có những quy định khác là trên 7 năm) tài trợ cho công trình xây dựng như nhà ở, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiều khoản cho vay không xác định trước được chính xác thời hạn.” (Theo sách giáo trình Ngân hàng thương mại) Phân loại dựa theo tài sản bảo đảm Tín dụng có bảo đảm: Là loại hình cấp tín dụng mà tất cả các khoản tín dụng 10 được bảo đảm đầy đủ bằng tài sản của khách hàng, bên thứ ba hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Tín dụng có bảo đảm một phần: Là loại hình cấp tín dụng mà một/một số khoản tín dụng bảo đảm đầy đủ bằng tài sản của khách hàng, bên thứ ba hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Tín dụng không có tài sản bảo đảm: Là loại hình cấp dụng mà tất cả các khoản tín dụng không được bảo đảm bằng tài sản của khách hàng, bên thứ ba hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ 1. Khái niệm về phát triển tín dụng bán lẻ Theo quan điểm duy vật biện chứng – giáo trình Triết học “Phát triển là quá trình vận động đơn giản đến phức tạp, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn. Phát triển là vận động nhưng không phải mọi vận động đều là phát triển mà chỉ vận động nào theo khuynh hướng đi lên thì mới là phát triển. Vận động diễn ra trong không gian, thời gian, nếu thoát ly chúng thì không thể có phát triển” Phát triển do đó được hiểu là sự tăng trưởng theo chiều hướng tiến lên một cách tích cực.
Phát triển có thể giữ nguyên số lượng nhưng biến đổi về chất lượng và cũng có thể bao hàm biến đổi cả về chất và lượng. Do vậy, xét theo lĩnh vực ngân hàng, phát triển TDBL được hiểu là quá trình tăng trưởng quy mô TDBL, đa dạng hoá cơ cấu TDBL phù hợp với thực tiễn nhu cầu của thị trường, tăng lợi nhuận, nâng cao NLCT của ngân hàng đồng thời nâng cao chất lượng TDBL thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Sự cần thiết phải phát triển tín dụng bán lẻ Thứ nhất, phát triển TDBL là để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Việt Nam là một trong những quốc gia có dân số đông với hơn 90 triệu dân, đồng thời cũng là quốc gia có dân số trẻ chiếm tỷ lệ lớn, cùng với đó là một nền kinh tế đang có nhiều nỗ lực để theo kịp với thị trường thế giới.
Bên cạnh đó, khi đất nước mở cửa nền kinh tế, các mặt hàng cao cấp như ô tô, xe máy, đồ gỗ cao 11 cấp… xuất hiện ngày càng nhiều với mức giá thành phải chăng thúc đẩy người dân gia tăng nhu cầu về tiêu dùng và kinh doanh. Chính vì vậy, nhu cầu về TDBL càng trở thành xu hướng mà các nhà băng đều hướng tới trong giai đoạn tiếp theo.