CHƯƠNG 1: TONG QUAN TAI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THUONG MẠI ĐIỆN TỬ BAN LẺ 1. Tong quan tài liệu nghiên cứu Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng bán lẻ cao nhất ở khu vực chau A với khoảng trên 11%/naim trong giai đoạn 2016-2019 (VN Report, 2019a). Thị trường bán lẻ trong nước hiện đang có sự chuyên mình mạnh mẽ từ mô hình truyền thống, hiện đại sang mô hình trực tuyến. Nhiều doanh nghiệp trong và ngoải nước với các mô hình bán lẻ đa dạng đã đem lại những trải nghiệm mới cũng như gia tăng cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng.
Đề có thể cạnh tranh tốt trên thị trường bán lẻ thì ứng dụng thương mại điện tử được xem như là một trong những giải pháp cốt lõi giúp doanh nghiệp bán lẻ phát triển bền vững trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Giải pháp ứng dụng công nghệ trong các khâu quan lý dé giảm chi phí, tăng độ thuận tiện và độ trải nghiệm cho người mua sẽ làm tăng sự thỏa mãn của khách hàng, và từ đó làm tăng độ trung thành của họ với doanh nghiệp. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Sherah Kurnia và cộng sự vào năm 2015 về “E-commerce technology adoption: A Malaysian grocery SME retail sector study” (dịch là “Ap dụng công nghệ thương mại điện tử: Nghiên cứu lĩnh vực bán lẻ SME của hang tap hóa Malaysia”) đã chỉ ra thương mại điện tử có tiềm năng đáng ké dé thúc đây sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước phát triển và dang phát triển. Tuy nhiên, việc áp dụng thương mại điện tử bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước đang phát triển đã phải đối mặt với nhiều thách thức chưa được giải quyết thỏa đáng do tính chất phức tạp của việc áp dụng thương mại điện tử trong các quốc gia như vậy.
Mục đích của nghiên cứu này là kiểm tra một cách có hệ thống ảnh hưởng của tổ chức, ngành và mức độ sẵn sàng của quốc gia và áp lực môi trường đối với việc áp dụng các công nghệ thương mại điện tử đa dạng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ dé phát triển quốc gia. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua việc khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ bán lẻ trong ngành hàng tạp hóa Malaysia để xác nhận mô hình đa cấp được dé xuất. Các phát hiện chỉ ra ảnh hưởng đáng ké của áp 8 lực môi trường đối với áp dụng các công nghệ thương mại điện tử khác nhau. Sự sẵn sang của tổ chức và quốc gia có những ảnh hưởng khác nhau các công nghệ thương mại điện tử đa dạng, trong khi ảnh hưởng của sự sẵn sàng của ngành được cho là không đáng kể.
Nghiên cứu này mở rộng hiểu biết hiện tại về ảnh hưởng của các yếu tố vi mô, trung bình và vĩ mô và có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu, các nhà thực hành và các nhà hoạch định chính sách. Vì đây là bài nghiên cứu tập trung vào các thị trường Malaysia nên có một số yếu tố như về địa lý, năng lực sản xuất sẽ chưa phi hợp với Việt Nam. Nghiên cứu của Lê Việt Trung và Masayoshi Maruyama vào năm 2011 về “Modern Retailers in Transition Economies : The Case of Vietnam” (dịch là “Cac nhà bán lẻ hiện đại trong các nền kinh tế chuyển đỗi: Trường hợp của Việt Nam”) đã đánh giá thị trường bán lẻ Việt Nam thời kỳ đầu hội nhập kinh tế quốc tế. Báo cáo sử dụng phương pháp định lượng và định tính dựa trên khảo sát 56 công ty điều hành các cửa hàng bán lẻ hiện đại ở Việt Nam, phỏng vẫn các CEO và quan chức chính phủ, và các chuyến thăm và quan sát cửa hàng trực tiếp của các tác giả.
Tác giả thảo luận về hoạt động và cải tạo bán lẻ của các nhà bán lẻ hiện đại tại địa phương, cấu trúc và nền tảng của các đối thủ cạnh tranh, các vấn đề mà các nhà bán lẻ gặp phải và triển vọng phát triển của họ trong tương lai. Báo cáo cung cấp bức tranh toàn cảnh về các nhà bán lẻ hiện đại tại Việt Nam và điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách, cũng như các nhà bán lẻ trong và ngoài nước. Các nghiên cứu trong nước Một số nghiên cứu trong nước được tìm thấy về việc phát trién thương mại điện tử bán lẻ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam. Có hai hướng nghiên cứu được nhân thay: (1) tiếp cận sự thay đồi thị trường thương mại điện tử bán lẻ trên cơ sở đánh giá sự thay đổi của toàn ngành thương mại điện tử; (2) tiếp cận ngành thương mại điện tử bán lẻ thông qua việc phân tích một khía cạnh cụ thé của ngành.
Theo ban biên tập phòng Thuong mại va Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vào năm 2016, nghiên cứu “Rui ro của Ngành ban lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập — Hiện trạng và Đề xuất chính sách” năm trong dự án “Tăng cường vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trong tham vấn xây dựng chính sách phát triển 9 ngành” được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng các van dé tồn tại, cản trở sự phát triển của ngành bán lẻ Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập TPP, EVFTA và các Hiệp định thương mại tự do, từ đó đề xuất các chính sách cu thé nhằm hỗ trợ, thúc đẩy ngành bán lẻ phát triển bền vững, qua đó đóng góp vào sự phát triển của các ngành sản xuất cũng như gia tăng lợi ích cho người tiêu dùng. Nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt trong việc xây dựng Chiến lược tổng thê phát triển thị trường trong nước giai đoạn đến 2025, tầm nhìn 2035 theo yêu cầu của Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ cũng như trong hoạch định các chính sách, pháp luật cụ thể nhằm triển khai các nội dung trong Chiến lược. Thể hiện quan điểm về công cụ thương mại điện tử, nghiên cứu của Nguyễn Văn Thoan và cộng sự vào năm 2017 về “Một số giải pháp ứng dụng các công cụ thương mại điện tử nhằm đẩy mạnh bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam” đã phân tích tình hình ứng dụng các công cụ thương mại điện tử trong bán lẻ trực tuyến tại một số doanh nghiệp tại Việt Nam, kinh nghiệm ứng dụng thành công các công cụ thương mại điện tử trong bán lẻ trực tuyến tại Amazon.com, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất cho các doanh nghiệp để tăng cường ứng dụng các công cụ thương mại điện tử trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của bài luận là đánh gia các công cụ thương mại điện tử tính đến thời điểm năm 2017, và hiện tại, các xu hướng trên thị trường đã có sự thay đôi tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển thương mại điện tử của cả nước.
Vì thế một số luận điểm của bài sẽ không còn phù hợp, hạn chế cho các nghiên cứu hiện tại. Nghiên cứu của Dương Thị Dung và cộng sự vào năm 2020 về “Nang cao chất lượng dịch vụ thương mại điện tử (B2Q Việt Nam” lại tập trung vào khía cạnh chất lượng dịch vụ. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng cả nghiên cứu định tính và định lượng. Theo đó, nghiên cứu định tính thực hiện vào thang 1 năm 2020 thông qua phỏng van chuyên sâu với I0 khách hàng (trong đó có 5 nữ và 5 nam) tại Hà Nội và Việt Trì.
Mục tiêu của quá trình phỏng vấn chuyên sâu là xem xét mức độ phù hợp của bảng hỏi với nền tảng thương mại điện tử và cảm nhận của khách hàng tại Việt Nam. Nghiên cứu nay được nhóm tác giả áp dụng phương thức chon mẫu ngẫu nhiên dé thu thập dữ liệu sơ cấp. Số liệu được thu thập tù 385 khách hàng mua săm trực tuyến tại 5 website thương mại điện tử lớn của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra: 08 yếu tố 10 của chất lượng thương mại điện tử B2C tác động thuận chiều đến sự hài lòng của khách hàng.
Nghiên cứu này chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ thương mại điện tử B2C của các website Việt Nam đã và đang đáp ứng nhu cầu của khách hàng khi mua sắm trực tuyến, đặc biệt trong giai đoạn Covid-19 bùng phat trên toàn cầu. Tại Việt Nam, nhờ có thương mại điện tử mà khách hàng có thể thỏa mãn các nhu câu thiết yếu một cách dé dàng đồng thời van đảm bảo giãn cách xã hội. Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: 08 yếu tố trong thang đo chất lượng dich vụ thương mại điện tử B2C tác động tích cực đến sự hài lòng của khách hàng. Đồng thời để nâng cao chất lượng dịch vụ thương mại điện tử thì các website thương mại điện tử còn phải nâng cao sự tin cậy của khách hang, tăng khả năng tương tác và phản ứng với khách hàng trước, trong va sau khi mua hàng.
Theo Nguyễn Thị Thúy Hồng và cộng sự vào năm 2021 về “Năng lực cạnh tranh của hệ thong doanh nghiệp ban lẻ Việt Nam trong khuôn khổ thực thi FTA thế hệ mới”, nhóm nghiên cứu đã đề cập đến những cơ hội và thách thức mà thị trường bán lẻ Việt Nam phải đối mặt trong khuôn khổ thực thi những Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới; bên cạnh đó phân tích các năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam, những gì doanh nghiệp nội địa còn yếu thế hơn so với các công ty bán lẻ lớn tới từ nước ngoài, những kết quả đã và đang đạt được; đồng thời đề xuất giải pháp nhằm bảo hộ và nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhà phân phối trong nước. Bài viết đã đi sâu vào thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong tình hình thực thi các FTAs thế hệ mới thông qua việc phân tích thị trường vĩ mô và nội ngành. Đây sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo hữu dụng trong nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu của ngành ô tô Việt Nam. “Bao cáo chỉ số thương mại Việt Nam 2021” của Hiệp hội thương mại điện từ Việt Nam đã chỉ ra xu hướng phát triển của lĩnh vực này trong giai đoạn năm năm 2016 - 2020 cũng như kết quả khảo sát hàng nghìn doanh nghiệp trên cả nước.
Kết qua bài nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch rất lớn trong lĩnh vực thương mại điện tử giữa hai thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh so với các địa phương khác.