Mở đầu - _ Chương 2: Tổng quan nghiên cứu va cơ sở lý thuyết về Trái phiếu xanh - _ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - _ Chương 4: Thực trạng Trái phiếu xanh tại Việt Nam - _ Chương 5: Kết luận và kiến nghị. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁI PHIẾU XANH 2. Tổng quan nghiên cứu 2.
Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Theo CBI, TPX đầu tiên được phát hành vào năm 2007 với đợt phát hành được xếp hạng AAA từ các tổ chức đa phương là Ngân hàng Đầu tư Châu Âu (EIB) và Ngân hàng Thế giới. Thị trường trái phiếu bắt đầu phản ứng sau khi TPX đầu tiên trị giá 1 tỷ USD, được bán trong vòng một giờ phát hành bởi IFC vào tháng 3 năm 2013. Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học, nhà hoạch định thực hiện các nghiên cứu định tính và định lượng về TPX tuy nhiên trong khuôn khổ bài khóa luận chỉ có thể giới han được trong 06 nhóm nội dung nổi bật sau:(i) Vai trò của TPX đối với nền kinh tế; (ii) Thách thức phát triển TPX; (iii) Hình thức phát hành TPX của các quốc gia; (iv) Chính sách phát triển TPX; (v) Vận hành thị trường TPX. Về đặc điểm của TPX, TPX có tính năng tương tự như trái phiếu truyền thống, đây là một công cụ tài chính lãi suất cố định được sử dụng để huy động vốn từ các NĐT thông qua thị trường vốn.
Tuy nhiên, TPX có một số đặc điểm riêng có, xét trên các khía cạnh như: mục đích phát hành, việc sử dụng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu, điều khoản phát hành TPX, việc kiểm tra, giám sát phát hành; lợi suất giữa TPX. (ii) Vé sử dụng nguồn vốn thu được từ phát hành trái phiếu: Đối với TPX, tổ chức phát hành phải cam kết sử dụng số tiền thu được một cách minh bạch; số tiền thu được sau khi trừ các chi phí liên quan đến dot chào ban được sử dung để tài trợ hoặc tái tài trợ cho các dự án “xanh”, các tài sản hoặc các hoạt động kinh doanh có lợi ích cho môi. (iii) Về điều khoản phát hành TPX: Do xuất phát từ mục đích sử dung vốn là huy động vốn cho các dự án xanh, loại dự án có lợi nhuận thấp, một số dự án có thể có rủi ro, nên TPX thông thường còn có một số các điều khoản đặc biệt về cơ chế trả nợ, truy đòi hoặc miễn truy đòi tổ chức phát hành. (iv) Về kiểm tra, giám sát: Để quản lý nguồn tiền thu được từ TPX dùng đúng mục đích, phải có bên thứ ba uy tín thực hiện việc theo dõi và quản lý nhằm đảm bảo tính minh bạch và chính xác.
Khác với trái phiếu thông thường, TPX thường phải trải qua quá trình xác minh để xác định rằng số tiền thu được tài trợ cho các dự án tạo ra lợi ích về môi trường. (v) Lợi suất của TPX: Nghiên cứu của Zerbib (2019) dựa trên một nghiên cứu về TPX được phát hành từ năm 2013 đến năm 2017 cho thấy lợi suất trung bình của TPX thấp 10 hơn 2 điểm cơ bản so với trái phiếu thông thường. Sự chênh lệch lợi suất này được giải thích là do nhu cầu về TPX cao nhưng nguồn cung TPX lại còn hạn chế. Về vai trò của TPX, dù trái phiếu mới chỉ xuất hiện cách đây hơn 15 năm nhưng rất nhiều nghiên cứu đã đưa ra những giá trị mà công cụ này mang đến như: Gianfranco Gianfrate và cộng sự (2019) bằng dữ liệu thứ cấp đã kết luận TPX không chỉ có thể giúp các tổ chức phát hành đạt được kết quả tài chính tốt hơn và toàn cầu nền kinh tế trở nên bền vững hơn, giúp NDT tuân thủ các quy định hiện tại và trong tương lai.
TPX có thể dai điện cho một cách hiệu quả để đạt được chi phí vốn thấp hơn cho các tổ chức cần cấp vốn hoặc tái cấp vốn cho các dự án xanh. Theo Aaron Maltaisa và cộng sự (2020) thông qua sử dụng bảng hỏi các bên liên quan đã đưa khẳng định TPX được coi là cung cấp động lực cho các tổ chức phát hành để nâng cao 'tham vọng xanh' của các dự án cụ thể và tổ chức của họ. DN khi tham gia TPX có lợi hơn về lợi ích xây dựng thương hiệu khi tham gia vào tài chính bền vững có thể là thu hút và giữ chân khách hàng và khách hàng hoặc tính giá cao cho các sản phẩm và dịch vụ (Dangelico và Vocalelli, 2017) Về thách thức phát triển TPX, Pawan Kumar và các công sự, (2016) đánh giá thách thức đối với phát triển TPX đến từ nhiều góc độ như: NDT thiếu nhận thức và hiểu biết ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi kinh tế bền vững; Trên góc độ Chính phủ, các Chính phủ hiện nay thiếu sự ưu tiên đối với phát triển TPX; Trên góc độ nhà phát hành, thách thức từ việc thúc đẩy các tổ chức phát hành có danh mục đầu tư các dự án xanh phù hợp; Thách thức trong yêu cầu tăng cường năng lực của các tổ chức phát hành. Ngoài ra theo Tiến si Sana Moid (2017) thách thức đến từ Tiêu chuẩn xanh do NDT thiếu hạn chế năng lực phân tích; về vấn đề chi phí cao; Xếp hang tín dụng thấp đối với các công ty phát hành tiềm năng; Nguồn tài trợ eo hẹp.
Bằng phương pháp phân tích có hệ thống Ursule Yvanna Otek Ntsama cùng cộng sự (2021) kết luận rào cản đến từ thiếu thông tin minh bạch về TPX; Thể chế với quy mô nhỏ và năng lực kỹ thuật kém là thách thức lớn cho các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Ở một góc độ khác Britta Hachenberg & Dirk Schiereck (2018) đặt ra giả thiết rủi ro NDT về NDT phải đối mặt với rủi ro bị “rửa xanh” - TPX được dán nhãn sai. Vì người phát hành vẫn có quyền lựa chọn xem trái phiếu của mình có được dán nhãn xanh hay không và không có biện pháp trừng phạt nào được áp dụng nếu việc dán nhãn nay không chính xác, trong trường hợp xấu nhất, NDT có thể phải chịu trách nhiệm về việc đầu tư vào một sản phẩm không xanh từ trái phiếu của mình. Về hình thức phát hành TPX của các quốc gia, theo Nassiry & Darius (2018) các nước Bắc Âu phát hành TPX bằng mô hình tài trợ gộp (SPFM), mô hình này giúp giảm gánh nặng tài chính cho Chính phủ và có thể giảm chỉ phí của các dự án cơ sở hạ tầng.
Còn nghiên cứu 11 của Lin Lin & Yanrong Hong (2022) chỉ ra Trung Quốc sử dụng rất nhiều chính sách khuyến khích phát hành TPX như: (i) Phát hành nhiều loại trái phiếu; (ii) Sự thống nhất từ TW đến Địa phương; (iii) Xây dựng bộ máy cao cấp; (iv) Tổng hợp sức mạnh từ các bộ; (v) Gia tăng vai trò của Tòa án; (vi) Tích cực tham gia vào các nền tảng song phương đa phương. Indonesia - quốc gia có 99% TPX phát hành từ nhà nước, theo số liệu thống kê từ khi phát hành thì chính phủ thực hiện giao bán TPX phổ rộng ra công chúng nhằm cung cấp các kênh sản phẩm thị trường ban đầu và tính thanh khoản thu hút NDT và nâng cao giáo dục cho người dân về ý nghĩa của công cụ này (Azhgaliyeva và cộng sự, 2020). Về chính sách phát triển TPX, dù mỗi quốc gia có điều kiện khác nhau song cùng hướng đến giá trị kinh tế bền vững nên đều có đồng nhất về chính sách dành cho TPX. Azhgaliyeva và cộng sự, 2020 bằng thống kê đã khẳng định tính hiệu quả từ chương trình tài trợ TPX va ưu đãi thuế như các chính sách trợ cấp chi phí phát hành TPX đặc biệt hấp dẫn đối với các tổ chức phát hành lần đầu, cơ chế tài trợ TPX, ., ngoài ra nhanh chóng thực hiện giải ngân cho bên thứ ba - đánh giá quá trình sử dụng nguồn vốn huy động từ TPX được sử dụng trong dự án bền vững.
Theo Aaron Maltais & Björn Nykvist, 2020 bằng phương pháp phỏng vấn đã kết luận ba ưu đãi phổ biến nhất để phát hành TPX là: (i) mở rộng cơ sở NDT, (ii) giảm chi phí vốn và (iii) đáp ứng nhu cầu của NDT đối với các sản phẩm đầu tư bền vững. Về vận hành thị trường TPX, có rất nhiều tổ chức trên thế giới đã đưa ra lời khuyên cho các quốc gia trong vấn đề này. United Nations Development Programme (2016). Theo United Nations Development Programme (2016), có ba yếu tố quyết định một thị trưởng TPX hoạt động bao gồm: (i) Quy mô thị trường; (ii) Tính thanh khoảng; (iii) Sự chuẩn hóa.
Đồng thời UNDP cũng lưu ý rằng việc phát hành TPX phải dam báo tính minh bạch, tính rõ ràng - không được lạm dụng công cụ này như là một phương tiện để đánh bóng tên tuổi của công ty hoặc đánh lớn các NDT và người tiêu dùng, thậm chí cho quốc gia. Cùng ý kiến này nhóm các NDT có tổ chức về thay đổi khí hậu (Institutional Investors Group on Climate Change - HGCC) đã nêu ra một số vấn đề, TPX có quy mô nhỏ, thanh khoản thấp và thời hạn ngắn trong khi đó các NDT có tổ chức luôn có xu hướng ưu tiên đầu tư vào các tài sản đài hạn mang tính bền vững. Tổng quan nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, dù TPX vẫn là chủ đề tương đối mới tuy nhiên rất nhiều công trình về đa dạng chủ đề tuy nhiên chỉ có thể sử dụng định tính với TPX. Trong khuôn khổ bài khóa luận và tiếp cận nghiên cứu mới nhất chỉ có thể giới han trong 05 các nội dung sau: (i) Khái 12 niệm TPX; (ii) Thách thức phát triển TPX; (iii) Tiềm năng phát triển TPX; (iv) Chính sách phát triển TPX; (v) Vận hành TPX.
Về khái niệm TPX, Trần Thị Thanh Tú và cộng sự (2020), hiện nay chưa có một khái niệm được công nhận chính thức về hệ thống TCX hoặc ở các khái niệm đơn lẻ, riêng biệt về các bộ phận, chủ thể tham gia trong hệ thống TCX như ngân hàng xanh, TCX, cổ phiếu xanh, TPX. Về thách thức phát triển TPX, theo Minh Châu và cộng sự (2019) có 02 thách thức lớn của TPX Việt Nam: (i) thiếu văn bản cụ thể quy định về TPX; (ii) còn một bộ phận những NĐT chưa nhận thức được tầm quan trọng của môi trường trong quyết định đầu tư.