phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liêu tham khảo, luận văn đ- ợc kết cấu thành 3 ch- ơng: Ch-ơng 1: Tổng quan về trái phiếu đô thị và thị tr- ờng trái phiếu đô thị. Ch- ơng 2: Thực trạng thị tr- ờng trái phiếu đô thị Việt Nam hiện nay. Ch-ơng 3: Giải pháp phát triển thị tr-ờng trái phiếu đô thị ở Việt Nam trong thời gian tới. -4- CH- ƠNG 1 TỔNG QUAN VỂ TRÁI PHIEU ĐÔ THỊ VÀ THỊ TR- ỜNG TRÁI PHIEU ĐÔ THỊ 1.1 Trái phiếu đô thị 1.1 Khái niêm và đặc điểm của trái phiếu đô thị Trái phiếu đô thị (TPDT) là một bộ phận của thị tr- ờng vốn, hay nói cách khác, nó là một trong những kênh huy động vốn trung và dài hạn cho chính quyền địa ph- ơng các tỉnh, thành phố.
TPDT là các công cụ nợ do chính quyền các thành phố lớn, th- ờng là các đô thị phát hành nhằm bổ sung vốn cho đầu t- phát triển hoặc huy động vốn cho các dự án xây dựng lớn. Các TPDT có tính thanh khoản cao, linh hoạt và th- ờng đ- ợc giao dịch ở thị tr- ờng tự do (OTC). Trái phiếu này th- ờng có thời hạn từ 2-15 năm, lãi suất cao hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ và lãi suất đi vay của ngân hàng, nh- ng thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn của ngân hàng. Về bản chất, TPDT chính là giấy nhận nợ của chủ thể phát hành ra nó: điều này có nghĩa là chủ thể phát hành ra trái phiếu là ng- ời đi vay — hay là con nợ, còn ng- ời nắm giữ trái phiếu đó (gọi là trái chủ) là ng- ời cho vay.
Trái phiếu là sự chứng nhận về mặt pháp lý quyền của ng- ời chủ nợ — trái chủ đối với tổ chức phát hành. Dặc điểm của TPDT: - Tổ chức phát hành — chính quyền địa ph- ơng cam kết trả một tỷ lê phần trăm nhất định tính trên mênh giá trái phiếu vào những ngày đã đ- ợc ấn định (còn gọi là các khoản chi trả lãi coupon) và hoàn trả số vốn gốc hay mênh giá trái phiếu vào thời điểm đáo hạn. Thông th- ờng, thời hạn trả lãi trái phiếu đ- ợc quy định một năm một lần hoặc sáu tháng một lần. Trong mỗi đợt -5- phát hành ghi rõ các đặc điểm cơ bản của TPDT nh- lãi suất đ- ợc h- ởng, thời gian thanh toán lãi, ph- ơng thức mua lại trái phiếu (nếu có) và các điều khoản khác.
- Dặc điểm quan trọng nhất của TPDT là đ- ợc miễn thuế, vì vậy, chính quyền địa ph- ơng có thể phát hành TPDT với lãi suất thấp hơn lãi suất hiên hành của trái phiếu công ty. Chính vì TPDT do chính quyền địa ph- ơng tỉnh, thành phố phát hành và đ- ợc dùng vào mục tiêu chung phát triển thành phố nên viêc mua bán loại trái phiếu này không phải nộp thuế. - Hình thức phát hành: giống nh- các loại trái phiếu khác, TPDT đ- ợc phát hành d- ới hình thức ghi sổ hoặc chứng chỉ không ghi tên (còn gọi là trái phiếu vô danh). + Trái phiếu vô danh là TPDT không mang tên trái chủ, trên cả chứng chỉ cũng nh- trên ghi sổ sách của chủ thể phát hành.
Những phiếu trả lãi đ- ợc đính theo tờ chứng chỉ, khi đến hạn trả lãi, ng- ời nắm giữ trái phiếu mang tới ngân hàng hoặc tổ chức phát hành nhận lãi, khi trái phiếu này đáo hạn, ng- ời nắm giữ nó mang tới ngân hàng hoặc tổ chức phát hành để nhận lại khoản cho vay (tuỳ thuộc vào từng đợt phát hành). + Trái phiếu ghi danh hay còn gọi là trái phiếu ghi sổ, là loại TPDT có ghi tên và địa chỉ của trái chủ trên chứng chỉ và trên sổ của tổ chức phát hành. Hình thức ghi sổ có thể chỉ thực hiên cho phần vốn gốc hoặc cho toàn bộ cả gốc lẫn lãi. Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu đ- ợc xác nhận bằng viêc l- u giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy vi tính.
- Dảm bảo tiền vay: TPDT do chính quyền địa ph- ơng phát hành nên độ rủi ro thấp (gần bằng trái phiếu chính phủ - TPCP) vì nó đ-ợc đảm bảo bằng thanh toán của ngân sách địa ph- ơng các tỉnh, thành phố. Cụ thể hơn, TPDT đ- ợc đảm bảo thanh toán bằng nguồn thu từ chính công trình mà nó tài trợ vốn. TPDT được xem là một món hàng được “ưa dùng” với nhiều ưu ®iểm: giá cả ít biến động do thu nhập từ trái phiếu khá ổn định và hầu nh- không -6- phụ thuộc vào kết quả hoạt động của ng- ời phát hành, do đó, TPDT đ- ợc coi nh- một tài sản tài chính có mức độ an toàn cao vì đ- ợc đảm bảo thanh toán của chính quyền tỉnh, thành phố. - Thời hạn: phần lớn TPDT là trái phiếu đa thời hạn, đ- ợc yết theo lợi tức chứ không theo đổng tiền.
Giá của chúng biến động theo các chứng khoán chính phủ. - Có tính linh hoạt, tính khả mại rất cao, th- ờng đ- ợc giao dịch ở thị tr- ờng OTC. - Mục đích sử dụng: TPDT dùng vào mục đích công cộng của các địa ph- ong. - Mênh giá do tổ chức phát hành - chính quyền địa ph- ong quy định và công bố, lãi suất có thể đ- ợc ấn định hoặc đ- ợc hình thành thông qua đấu thầu lãi suất, đa dạng kỳ hạn.
Tr- ớc mỗi đợt phát hành, các thông tin liên quan sẽ đ- ợc công bố rộng rãi trên các ph- ong tiên thông tin đại chúng nh-: khối l- ợng trái phiếu phát hành, thời hạn, lãi suất, mênh giá, thời gian, địa điểm, quyền lợi của ng- ời mua và các quy định về thanh toán gốc và lãi của trái phiếu.2 Vai trồ của TPDT Nhu cầu vốn tài trợ cho các dự án dài hạn là một trong những hoạt động chủ yếu đối với các thị tr- ờng đang phát triển góp phần vào sự phát triển kinh tế là rất cần thiết. Vốn là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào nói chung và của mỗi chính quyền địa ph- ong nói riêng. Thông th- ờng, vốn dài hạn đ- ợc cung cấp bởi khu vực ngân hàng, đặc biêt là các ngân hàng có vốn nhà n- ớc. Tuy nhiên, viêc quá phụ thuộc vào nguổn vốn ngân hàng có thể ảnh h- ỏng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế, điều mà thực tế đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu □ năm 1997, và gần đây nhất là sự sụp đổ của hê thống Ngân hàng lớn của Mỹ trong năm 2008,2009 nh- Ngân hàng.
Năm 1997 cuộc khủng hoảng toàn diên khỏi nguổn từ Thái Lan, sau đó lan sang Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Philippine, Hổng Kông -7- và Singapo đã gây ra những hậu quả nặng nề. Một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng là tại phần lớn các n- ớc Châu á, Ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong việc rót những khoản tiết kiêm trong n- ớc vào đầu t-, khu vực này cung ứng khoảng 80% nợ tài chính, trong khi thị tr- ờng trái phiếu chỉ chiếm hơn 20%. Hê thống ngân hàng đặc biệt suy yếu khi phải gánh chịu tình trạng “lệch pha kép” đó là lệch pha về thời hạn và lệch pha về loại tiền tê. Sự trục trặc của hê thống ngân hàng sẽ dẫn tới sự giảm đột ngột trong hoạt động cung cấp tín dụng và gây ra sự khủng hoảng về hê thống ngân hàng và thanh toán, làm ảnh h- ỏng nghiêm trọng tới nền kinh tế.
Nhu cầu vốn dài hạn, tốt nhất nên đ-ợc thoả mãn bằng các khoản đầu t- dài hạn của những ng- ời cho vay d- ới dạng cổ phiếu hay trái phiếu dài hạn. Sau khủng hoảng tài chính 1997-1998, các n- ớc Châu á nhận thấy cần phải có một thị tr- ờng vốn đa dạng hơn và đặc biệt hơn là một thị tr- ờng trái phiếu có quy mô và độ sâu để hỗ trợ tốt hơn cho nhu cầu vốn đầu t- dài hạn trong nền kinh tế. Sự xuất hiên này giờ đây đã làm các n-ớc Châu á thay da đổi thịt. Khu vực Đông á, tăng tr- ỏng mạnh về giá trị trái phiếu tính bằng đổng nội tê đáng chú ý liên tục trong 6 tháng cuối năm 2006, đạt 2.840 tỷ USD vào cuối năm 2006, tăng 32.145 tỉ USD cuối năm 2005.
Mức tăng lớn nhất là Trung Quốc (51%) và Thái Lan (42%); tiếp theo là Singapore và Hàn Quốc đều (19%) ; Indonesia (15%); Malaysia (14%); Hổng Kông (12%) và Philippine (8%). Đến năm 2008 tổng l- ợng trái phiếu l-u hành của Singapore là 66. Năm 2009 Singapore 74%, Thái Lan 58%, Malaysia 82%, Trung Quốc 53%. Do cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 chính phủ các n- ớc Châu á đã đ-a ra các gói kích cầu nhằm ổn định nền kinh tế do đó thị tr-ờng trái phiếu Đông á năm nay rất sôi nổi.
Báo cáo của ADB cũng cho biết, Trung Quốc và Viêt Nam là 2 thị tr- ờng trái phiếu phát triển mạnh trong năm 2008. -8- Để có vốn đầu t- cho cơ sở hạ tầng, các chính quyền địa ph- ơng th- ờng đ- ợc vay - u đãi từ phía các ngân hàng quốc gia. Tuy nhiên, chính sự lê thuộc quá nhiều vào hê thống ngân hàng gây ra hậu qủa nghiêm trọng cho nền kinh tế, trong tr- ờng hợp ngân hàng đổ vỡ sẽ gây hiêu ứng nghiêm trọng tới toàn bộ nền kinh tế quốc gia nói chung. Chính vì vậy, viêc huy động vốn của các chính quyền địa ph- ơng bằng cách phát hành TPĐT có -u điểm nổi trội hơn so với vay vốn ngân hàng xét trên các khía cạnh nh- quy mô tài trợ, thời hạn, các chi phí phát sinh, phạm vi ng- ời cho vay, khả năng chuyển nh- ợng và tính thanh khoản.
Có thể nói, viêc huy động vốn bằng cách phát hành TPĐT không bị hạn chế về quy mô, hay nói cách khác, chính quyền địa ph-ơng có thể thông qua con đ- ờng này để huy động một số vốn lớn phục vụ cho mục tiêu phát triển chung của địa ph- ơng miễn là có ph- ơng án sử dụng vốn hợp lý, có tính khả thi và đảm bảo khả năng hoàn trả lãi và gốc cho ng- ời cho vay. Trái lại, nếu đi vay ngân hàng, số vốn tối đa đ- ợc vay phụ thuộc vào vốn tự có của bản thân ngân hàng (nếu nhu cầu vay quá lớn, viêc cho vay phải đ- ợc tiến hành qua ph- ơng thức đổng tài trợ phức tạp hơn nhiều).