Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh hiện có hơn 20.000 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, giữ vị trí đầu tàu kinh tế nhưng đang đối mặt với thách thức lớn khi có tới 70% công nghệ sản xuất phải nhập khẩu từ nước ngoài. Nguồn cung công nghệ nội địa chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là sự thiếu đồng bộ và bất cập trong hệ thống cơ chế, chính sách phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào ba nhiệm vụ chính: hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển thị trường khoa học và công nghệ; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng cung - cầu, hoạt động của các định chế trung gian và việc thực thi chính sách tại địa phương; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện chính sách công trong lĩnh vực này. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, với dữ liệu và mốc thời gian khảo sát chuyên sâu trong giai đoạn từ năm 2011 đến quý II năm 2017.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế chuyển giao công nghệ, tháo gỡ rào cản đưa mức đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp từ mức khiêm tốn 0,2% - 0,3% doanh thu lên các ngưỡng cao hơn. Đồng thời, nghiên cứu tạo tiền đề kích hoạt hiệu quả nguồn vốn từ 106 quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp đã thành lập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị theo hướng dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế kết hợp với lý thuyết kinh tế học tri thức và đổi mới sáng tạo. Mô hình nghiên cứu cấu trúc thị trường khoa học và công nghệ được xây dựng dựa trên 5 yếu tố cấu thành nền tảng: khung khổ pháp lý điều chỉnh giao dịch; chủ thể bên mua (cầu công nghệ); chủ thể bên bán (cung công nghệ); hàng hóa khoa học công nghệ cùng cơ chế định giá; và hệ thống dịch vụ trung gian môi giới, xúc tiến.

Hệ thống khái niệm công cụ cốt lõi được chuẩn hóa gồm:

  • Khoa học: Hệ thống tri thức tích lũy về quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy, gắn liền với hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
  • Công nghệ: Giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật gồm 4 thành tố liên kết chặt chẽ là phần kỹ thuật (technoware), phần thông tin (infoware), phần con người (humanware) và phần tổ chức (orgaware).
  • Thị trường khoa học và công nghệ: Môi trường pháp lý, đầu tư và thương mại thúc đẩy giao dịch, mua bán các sản phẩm, dịch vụ khoa học công nghệ có sự định hướng và điều tiết của Nhà nước.
  • Chính sách phát triển thị trường: Tập hợp các quyết sách, công cụ quy phạm pháp luật và hỗ trợ tài chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm gia tăng quy mô và chất lượng các giao dịch công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ, cùng dữ liệu tổng hợp từ 250 đề tài nghiên cứu khoa học được cấp kinh phí triển khai. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ dữ liệu thứ cấp từ hơn 20.000 doanh nghiệp sản xuất, khảo sát tập trung vào 491 đơn đăng ký sáng chế và 256 đơn đăng ký giải pháp hữu ích trong giai đoạn từ năm 2014 đến hết tháng 6 năm 2017.

Phương pháp chọn mẫu theo tiêu chí phân tầng theo nhóm ngành công nghiệp trọng yếu (cơ khí, chế biến thực phẩm, điện - điện tử) và theo loại hình sở hữu (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Luận văn kết hợp phương pháp hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu và phương pháp thống kê kinh tế. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm bảo đảm đánh giá khách quan, lượng hóa được thực trạng cung - cầu và xác định chính xác các điểm nghẽn thể chế trong suốt chu kỳ nghiên cứu 2011 - 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nguồn cung công nghệ nội địa còn quá khiêm tốn và lệ thuộc nặng nề vào nhập khẩu. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng 70% công nghệ đang được các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng có nguồn gốc nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó có tới 90% thuộc nhóm công nghệ trung bình hoặc lạc hậu.

Thứ hai, kết quả bảo hộ tài sản trí tuệ đạt tỷ lệ rất thấp so với tiềm năng đô thị. Trong giai đoạn 2014 đến quý II/2017, toàn địa bàn ghi nhận 491 đơn đăng ký sáng chế nhưng chỉ có 52 văn bằng được cấp (đạt tỷ lệ 10,6%); 256 đơn đăng ký giải pháp hữu ích với 90 văn bằng được cấp (đạt tỷ lệ 35,2%). Trung bình mỗi năm thành phố chỉ có 219 đơn nộp và 38 văn bằng bảo hộ được cấp cho sáng chế cùng giải pháp hữu ích.

Thứ ba, mức độ sẵn sàng đầu tư đổi mới công nghệ có sự chênh lệch lớn giữa các thành phần kinh tế. Tỷ lệ đầu tư đổi mới công nghệ của khối doanh nghiệp nhà nước đạt 16,3%, cao hơn mức 11,2% của doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, về nhập khẩu thiết bị, khối ngoài quốc doanh chiếm 25,3%, vượt trội so với doanh nghiệp nhà nước. Tỷ trọng đầu tư máy móc trong các ngành cơ khí, chế biến và điện tử duy trì mức tăng trên 20%/năm.

Thứ tư, hạ tầng dịch vụ trung gian và cơ chế tài chính còn nhiều khoảng trống. Toàn thành phố mới có 106 doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Dự án Sàn giao dịch công nghệ Quốc gia với diện tích hơn 1.000m2 sàn tại Quận 11 bước đầu hoàn thành hạ tầng kỹ thuật nhưng các tổ chức định giá, giám định và môi giới công nghệ độc lập vẫn chưa phát triển tương xứng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ rào cản pháp lý trong việc định giá tài sản trí tuệ và cơ chế giao quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước. Mức chi đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 0,2% đến 0,3% doanh thu, quá chênh lệch khi đặt cạnh mức 5% của Ấn Độ hay 10% của Hàn Quốc. Tổng đầu tư toàn xã hội cho khoa học công nghệ của Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,6% GDP và chưa đến 2% chi ngân sách nhà nước, trong khi các nước phát triển thuộc nhóm OECD luôn duy trì trên 2% GDP.

Dữ liệu nghiên cứu về đăng ký sáng chế và cấp văn bằng bảo hộ từ năm 2014 đến 2017 (tăng từ 8 bằng sáng chế năm 2014 lên 24 bằng năm 2016) được thể hiện trực quan thông qua biểu đồ cột kết hợp đường xu hướng tăng trưởng tỷ lệ cấp phép. Tương tự, sự phân bổ nguồn cung công nghệ được mô tả sinh động qua biểu đồ tròn với tỷ lệ 70% nhập khẩu so với 30% nội địa, làm nổi bật nhu cầu cấp thiết phải ban hành các chính sách kích cầu công nghệ nội sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý về định giá tài sản trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần ban hành quy chế liên ngành hướng dẫn chi tiết việc định giá kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thương mại hóa đề tài khoa học công lập lên mức 25% trong giai đoạn 2018 - 2022.

Thứ hai, đưa vào vận hành hiệu quả Sàn giao dịch công nghệ Quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sở Khoa học và Công nghệ cần hoàn thiện quy chế vận hành không gian 1.000m2 tại Quận 11 trong năm 2018, thiết lập cổng thông tin Techmart trực tuyến liên thông toàn quốc, hướng tới mục tiêu kết nối thành công hơn 500 nhà cung cấp và 2.000 doanh nghiệp tham gia giao dịch định kỳ mỗi năm.

Thứ ba, mở rộng các ưu đãi tài chính và thúc đẩy trích lập quỹ khoa học công nghệ. Cục Thuế và Sở Tài chính cần đơn giản hóa thủ tục quyết toán cho doanh nghiệp khi trích tối đa 10% thu nhập tính thuế vào Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, phấn đấu gia tăng số lượng doanh nghiệp lập quỹ từ 106 đơn vị lên trên 300 đơn vị trước năm 2023.

Thứ tư, bảo đảm định mức ngân sách và nâng cấp mạng lưới ươm tạo doanh nghiệp. Thành phố cần thực hiện nghiêm túc việc phân bổ tối thiểu 2% tổng chi ngân sách địa phương hàng năm cho sự nghiệp khoa học và công nghệ, đồng thời đầu tư nâng cấp hơn 50 cơ sở ươm tạo và Công viên phần mềm Quang Trung, hỗ trợ trực tiếp cho ít nhất 100 dự án khởi nghiệp sáng tạo mỗi năm giai đoạn 2018 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách tại Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp có thể sử dụng khung giải pháp của luận văn để tối ưu hóa nguồn ngân sách 2% dành cho khoa học công nghệ và thiết kế các gói hỗ trợ kỹ thuật cho hơn 20.000 doanh nghiệp sản xuất.

Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp và nhà quản trị sản xuất tại các công ty công nghiệp, đặc biệt là 106 doanh nghiệp đã lập quỹ phát triển khoa học công nghệ, tìm thấy trong luận văn quy trình giảm thiểu rủi ro pháp lý khi đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ nhập khẩu vốn chiếm 70% thị phần.

Nhóm viện nghiên cứu, trường đại học và hơn 50 vườn ươm công nghệ có thể tham khảo phân tích từ 491 hồ sơ sáng chế để định hướng hoạt động nghiên cứu ứng dụng bám sát nhu cầu thực tế của thị trường, nâng cao hiệu quả thương mại hóa sản phẩm trí tuệ.

Nhóm học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công và Kinh tế phát triển có thể khai thác hệ thống dữ liệu thống kê giai đoạn 2011 - 2017 cùng hơn 90 tài liệu tham khảo chuyên ngành để phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan đến thể chế đổi mới sáng tạo.

Câu hỏi thường gặp

Thị trường khoa học và công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp phải trở ngại lớn nhất nào?
Thị trường chịu sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu khi 70% công nghệ sản xuất phụ thuộc nhập khẩu và 90% trong số đó là công nghệ trung bình hoặc lạc hậu. Nguồn cung sáng chế nội địa rất mỏng với mức trung bình chỉ 38 văn bằng bảo hộ được cấp mỗi năm, chưa đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa của 20.000 doanh nghiệp.

Vì sao tỷ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp?
Doanh nghiệp chỉ chi khoảng 0,2% đến 0,3% doanh thu cho đổi mới công nghệ, thấp hơn nhiều so với mức 5% của Ấn Độ hay 10% của Hàn Quốc. Nguyên nhân là do phần lớn doanh nghiệp thiếu hụt nguồn vốn, thiếu thông tin thị trường và gặp nhiều vướng mắc trong việc định giá cũng như bảo hộ tài sản trí tuệ.

Sàn giao dịch công nghệ Quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò gì?
Với quy mô hơn 1.000m2 sàn tại Quận 11, sàn giao dịch đóng vai trò là thiết chế trung gian kết nối các nhà khoa học với cộng đồng doanh nghiệp, cung cấp dịch vụ thẩm định giá, tư vấn pháp lý chuyển giao công nghệ cho 250 đề tài nghiên cứu hàng năm nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch.

Chính sách trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ mang lại quyền lợi gì cho doanh nghiệp?
Doanh nghiệp được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, 106 doanh nghiệp đã tận dụng cơ chế này để chủ động tái đầu tư máy móc hiện đại và nâng cao năng suất lao động mà không phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng.

Làm thế nào để nâng cao tỷ lệ cấp văn bằng và thương mại hóa sáng chế?
Cần hoàn thiện thủ tục giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu công lập theo Thông tư 15/2014/TT-BKHCN, áp dụng mức hỗ trợ kinh phí đăng ký văn bằng từ 35 đến 45 triệu đồng cho mỗi sáng chế và giải pháp hữu ích, đồng thời liên kết chặt chẽ hơn 50 vườn ươm với các sàn giao dịch công nghệ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực chứng chính sách phát triển thị trường khoa học công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2017 trên tập mẫu 20.000 doanh nghiệp.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn thị trường khi tỷ lệ nhập khẩu công nghệ lên tới 70% trong khi mức đầu tư R&D của doanh nghiệp nội địa chỉ đạt 0,2% - 0,3% doanh thu.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ từ hoàn thiện thể chế định giá, vận hành sàn giao dịch 1.000m2 đến chính sách kích cầu tài chính.
  • Khẳng định vai trò dẫn dắt của Nhà nước trong việc bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách 2% cho khoa học công nghệ và hỗ trợ hệ sinh thái hơn 50 cơ sở ươm tạo.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho công tác quản trị công và hoạch định chiến lược kinh tế tri thức đô thị.

Lộ trình triển khai đồng bộ các giải pháp cần được thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2018 - 2025 nhằm biến khoa học và công nghệ thành động lực tăng trưởng cốt lõi. Hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ Quản lý công để áp dụng hiệu quả vào công tác quản lý, nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp.