Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Triết học của tác giả Nguyễn Thị Ngọc (Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Hồng Loan) được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và yêu cầu thực tiễn của công cuộc Đổi mới tại Việt Nam.

Tác giả đặt vấn đề nghiên cứu từ luận điểm của C.Mác: "Khoa học - kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp". Trong tiến trình lịch sử nhân loại, khoa học và công nghệ (KH&CN) đã tạo ra bước ngoặt về chất đối với lực lượng sản xuất (LLSX), thúc đẩy xu thế trí tuệ hóa người lao động và hiện đại hóa tư liệu sản xuất. Đối với Việt Nam, phát triển LLSX là nhân tố tiên phong quyết định sự phát triển xã hội và là yêu cầu khách quan nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giúp đất nước đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển. Từ nhận thức đó, đề tài "Một số biện pháp phát huy vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay" được xác lập.

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu tổng quát là làm rõ vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX, khảo sát thực trạng KH&CN ở Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu. Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số gồm:

  1. Làm rõ một số lý luận cơ bản về KH&CN và vai trò của nó đối với sự phát triển của LLSX.
  2. Nghiên cứu thực trạng KH&CN ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó.
  3. Đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các biện pháp phát huy vai trò của KH&CN đối với sự phát triển LLSX tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của khóa luận bắt nguồn từ thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tác giả vận dụng các phân tích kinh điển của C.Mác trong các tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1846), Sự khốn cùng của triết học (1847), Lao động làm thuê và tư bản (1849) và bộ Tư bản, cùng các luận điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ biện chứng giữa khoa học, kỹ thuật và sản xuất.

Về phương diện đường lối và thể chế, khóa luận dựa trên hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam (Văn kiện Đại hội IX, XI, XII; Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 Khóa XI) và hệ thống văn bản pháp luật liên quan như Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và phân tích thực tiễn:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích và tổng hợp, logic kết hợp với lịch sử, quy nạp và diễn dịch nhằm khái quát hóa các khái niệm, quy luật và mô hình lý luận.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra xã hội học, thống kê toán học, so sánh và đối chiếu số liệu thứ cấp từ các bộ, ngành.

Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm các báo cáo tổng kết của Đảng, số liệu thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông (2012–2013), Tổng cục Thống kê và kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước (Hồ Anh Dũng, 2002; Hoàng Văn Phong, 2003; Nguyễn Đình Hòa, 2001).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về khoa học và công nghệ và vai trò của nó đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất

Chương này xây dựng khung khái niệm nền tảng về khoa học, công nghệ, LLSX và mối quan hệ giữa các yếu tố này:

  • Khái niệm khoa học và công nghệ: Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, phản ánh dưới dạng logic trừu tượng các thuộc tính và quy luật khách quan, phân biệt giữa tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. Công nghệ gồm 3 thành phần cốt lõi: Kỹ thuật (máy móc, thiết bị), Con người (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm) và Thông tin (dữ liệu kỹ thuật, vận hành, tổ chức). Tác giả chỉ ra 4 trụ cột chính của công nghệ cao hiện đại: Khoa học về sự sống (công nghệ gen, tế bào), Công nghệ vật liệu (vật liệu mới, nano, siêu dẫn), Khoa học về năng lượng, và Khoa học công nghệ thông tin (được đánh dấu từ sự ra đời của máy tính điện tử năm 1946 tại Đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ).
  • Kết cấu và đặc trưng của LLSX: LLSX là phương thức kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất (bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động, trong đó công cụ lao động giữ vai trò quyết định). KH&CN được phân tích như một bộ phận cấu thành ngày càng giữ vị trí trực tiếp trong LLSX. LLSX mang 5 đặc trưng cơ bản: là lực lượng vật chất khách quan; thể hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; quyết định quan hệ sản xuất; có xu hướng phát triển liên tục và mở rộng biến năng lực người thành LLSX; mang tính lịch sử sâu sắc.
  • Vai trò của KH&CN: Trực tiếp giải phóng sức lao động cơ bắp, trí tuệ hóa người lao động, rút ngắn thời gian chuyển giao từ phòng thí nghiệm vào sản xuất thực tiễn, tạo bước nhảy vọt trong công cụ và đối tượng lao động.
  • Yếu tố ảnh hưởng: Gồm 4 nhóm nhân tố: Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị R&D; Chất lượng đội ngũ cán bộ KH&CN; Nhận thức của xã hội và các tầng lớp dân cư.

Chương 2: Thực trạng phát triển của khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của thực trạng

Chương 2 phân tích các điều kiện tác động và đánh giá thực trạng phát triển KH&CN tại Việt Nam theo từng lĩnh vực chuyên ngành:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Vị trí địa lý (vĩ độ 23°23'B đến 8°34'B, kinh độ 102°09'Đ đến 109°24'Đ), địa hình 3/4 đồi núi, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa (nhiệt độ trung bình >20°C, lượng mưa 1500–2000 mm/năm, độ ẩm >80%) tạo thuận lợi cho đa dạng sinh thái nhưng gây khó khăn cho việc cơ giới hóa và bảo quản máy móc. Về mặt xã hội, dân số năm 2019 đạt trên 97 triệu người (mật độ 313 người/km²), cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực nhưng nguồn lực tài chính cho nghiên cứu còn thấp.
  • Thực trạng 4 phân ngành KH&CN trọng điểm:
Lĩnh vực KH&CN Thành tựu nổi bật theo số liệu văn bản Hạn chế, tồn tại được ghi nhận
Khoa học sự sống - Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử chẩn đoán bất thường phôi thai, bệnh di truyền, ung thư.
- Kỹ thuật ADN phục vụ giám định pháp y hình sự và huyết thống.
- Ứng dụng tế bào gốc trong y học và thẩm mỹ.
- Chăn nuôi: Sử dụng kỹ thuật PCR-RFLPs, Sequencing phát hiện gen Halothane liên quan đến tỷ lệ nạc ở lợn.
- Nhân giống, canh tác đại trà cây dược liệu.
- Đào tạo nhân lực chuyên sâu gặp khó khăn.
- Nghiên cứu đòi hỏi kinh phí lớn, ngân sách chưa đáp ứng đủ.
- Chính sách xã hội hóa, kêu gọi doanh nghiệp đầu tư chưa đạt hiệu quả cao.
- Trang thiết bị thí nghiệm còn lạc hậu.
Khoa học vật liệu - Nghiên cứu, ứng dụng vật liệu nano, vật liệu siêu dẫn, vật liệu điện tử.
- Tái chế xỉ thép từ nhà máy luyện kim thành "đá nhân tạo" làm nền móng kho bãi, gia cố mặt bằng.
- Ứng dụng vật liệu lọc từ xỉ thép xử lý nước thải (điển hình tại Sở TN&MT tỉnh Trà Vinh).
- Máy móc, trang thiết bị tại nhiều doanh nghiệp nhà nước đã qua sử dụng trên 30 năm.
- Thiếu cán bộ đầu đàn và cán bộ trẻ trình độ cao.
- Trình độ công nghệ doanh nghiệp phổ biến ở mức trung bình và thấp.
Khoa học năng lượng - Chuyển dịch giảm phụ thuộc năng lượng truyền thống (củi, gỗ giảm từ 80% năm 1860 xuống 25% năm 1920 và còn 2% sau 1 thế kỷ).
- Khai thác năng lượng sinh khối (biogas).
- Tiềm năng gió tốc độ trung bình 6 m/s ở độ cao 60m; vận hành 1 trang trại điện gió 30 MW, đang xây dựng trang trại 90 MW.
- Năng lượng mặt trời: Triển khai dự án Bếp năng lượng mặt trời (2000–2005) tại quận Ngũ Hành Sơn.
- Cạn kiệt tài nguyên hóa thạch; gia tăng khí thải CO2 gây mưa axit, ô nhiễm nguồn nước.
- Quy trình sản xuất năng lượng tái tạo phát sinh khí thải đặc thù (NF3, SF6).
- Chi phí nhập khẩu vật liệu quý hiếm cho thiết bị tái tạo rất cao.
Công nghệ thông tin (CNTT) - Chỉ số phát triển ICT xếp hạng 81/141 quốc gia, đứng thứ 5 khu vực Đông Nam Á (theo công bố ngày 26/12/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông).
- Hệ thống 67 đài phát thanh - truyền hình; doanh thu truyền hình trả tiền đạt trên 200 triệu USD (truyền hình cáp chiếm 97%).
- Kim ngạch xuất khẩu ngành xuất bản đạt 21 triệu USD.
- Cổng thông tin điện tử cơ quan nhà nước cung cấp hơn 100.000 dịch vụ công trực tuyến.
- Thiếu nhân lực CNTT trình độ cao, thiếu cán bộ đầu đàn.
- Ứng dụng CNTT chưa đồng đều, mức độ khai thác tại vùng sâu, vùng xa còn hạn chế, chưa có chiều sâu.
  • Nguyên nhân của thực trạng:
    • Nguyên nhân thành tựu: Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước qua việc ban hành các chính sách thuế, tài chính, hoàn thiện Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ; thị trường KH&CN từng bước hình thành; gia tăng chi ngân sách cho KH&CN; nhận thức của hệ thống chính trị và người dân được nâng lên.
    • Nguyên nhân hạn chế: Nghiên cứu - triển khai (R&D) chưa gắn chặt với nhu cầu thực tiễn sản xuất; thị trường KH&CN sơ khai, thiếu tổ chức dịch vụ trung gian; nhập khẩu công nghệ cũ; cơ chế bao cấp gián tiếp và tính chất độc quyền ở một số doanh nghiệp tạo tâm lý ỷ lại; đầu tư ngân sách còn dàn trải, chưa chú trọng đúng mức khu vực nông thôn, miền núi.

Chương 3: Một số biện pháp phát huy vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp gồm các nhóm biện pháp trọng tâm:

  • Hoàn thiện công tác xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước: Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng theo định hướng Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 Khóa XI; bám sát 5 quan điểm chỉ đạo của Bộ KH&CN (chính trị, cơ chế chính sách, nhân lực, tiềm lực vật chất - tài chính, hợp tác quốc tế); đảm bảo tốc độ tăng chi ngân sách cho KH&CN tương ứng với tốc độ tăng thu ngân sách quốc gia; đa dạng hóa nguồn vốn từ doanh nghiệp.
  • Tăng cường chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị: Tiếp tục kế thừa các chính sách đầu tư từ mốc năm 2001–2002; xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế; quy hoạch phân khu phòng thí nghiệm thực hành riêng biệt; thành lập quỹ bảo trợ KH&CN nhằm tài trợ kinh phí nghiên cứu, bảo dưỡng, thay thế trang thiết bị hư hỏng.
  • Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ KH&CN: Thực hiện quan điểm "Hiền tài là nguyên khí quốc gia", tập trung đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành, tổng công trình sư; ban hành cơ chế trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ khoa học trình độ cao.
  • Nâng cao nhận thức xã hội: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức thông qua hệ thống khuyến nông, khuyến công để người lao động trực tiếp tiếp thu và làm chủ tiến bộ kỹ thuật.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm rõ tính tất yếu của việc chuyển hóa tri thức khoa học thành bộ phận trực tiếp của LLSX theo quan điểm triết học Mác - Lênin trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam.
  • Tập hợp các số liệu thực chứng cụ thể về trình độ KH&CN Việt Nam: chỉ số ICT xếp hạng 81/141 thế giới (thứ 5 ASEAN năm 2012); hạ tầng 67 đài PT-TH; cung cấp hơn 100.000 dịch vụ công trực tuyến; vận hành trang trại điện gió 30 MW và triển khai trang trại 90 MW; ứng dụng kỹ thuật PCR-RFLPs và Sequencing xác định gen Halothane trong chăn nuôi; mô hình tái chế xỉ thép xử lý nước thải tại Trà Vinh.
  • Đóng góp của tác giả thể hiện ở việc hệ thống hóa 4 nhóm biện pháp đồng bộ (chính sách, cơ sở vật chất, nhân lực, nhận thức) gắn với việc khắc phục các điểm nghẽn thực tiễn mà các công trình trước đó (Hồ Anh Dũng, Hoàng Văn Phong, Nguyễn Đình Hòa) chỉ mới đề cập riêng lẻ ở từng khía cạnh con người, động lực CNH hay góc độ đạo đức.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận: Dữ liệu thực tiễn được khai thác chủ yếu từ các báo cáo thứ cấp và văn kiện tính đến giai đoạn 2012–2019; chưa tiến hành các cuộc điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn tại các cơ sở sản xuất công nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp; nội dung biện pháp về nâng cao nhận thức xã hội ở chương 3 chưa được tác giả trình bày chi tiết thành một tiểu mục riêng biệt tương đương các biện pháp khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục đánh giá tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với sự biến đổi kết cấu LLSX tại Việt Nam sau năm 2019; nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính cho các viện nghiên cứu và mô hình liên kết ba nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp) trong việc thương mại hóa sáng chế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, học viên và sinh viên các ngành Triết học, Triết học Mác - Lênin, Giáo dục Chính trị, Kinh tế chính trị và Quản lý khoa học - công nghệ khi tìm hiểu về vai trò của KH&CN đối với LLSX.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến bức tranh tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và số liệu phát triển của 4 lĩnh vực KH&CN trọng điểm (sự sống, vật liệu, năng lượng, CNTT) tại Việt Nam giai đoạn 2010–2019.
  • Phần đáng tham khảo nhất là khung lý luận phân tích 5 đặc trưng của LLSX và các luận điểm trích dẫn kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen về bản chất của kỹ thuật và vốn cố định trong Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận xác định công nghệ cao hiện đại gồm những trụ cột chính nào? Khóa luận xác định 4 trụ cột chính của công nghệ cao gồm: Khoa học về sự sống (trọng tâm là công nghệ gen và tế bào), Công nghệ về vật liệu (vật liệu mới, nano, siêu dẫn), Khoa học về năng lượng, và Khoa học công nghệ thông tin (phần cứng, phần mềm, mạng).

2. Số liệu về năng lượng tái tạo (gió và mặt trời) được văn bản trích dẫn như thế nào? Văn bản ghi nhận Việt Nam có tốc độ gió trung bình 6 m/s ở độ cao 60m tại khu vực thuận lợi; có 1 trang trại điện gió 30 MW đang vận hành và 1 trang trại 90 MW đang xây dựng. Về năng lượng mặt trời, dự án "Bếp năng lượng mặt trời" được triển khai giai đoạn 2000–2005 tại quận Ngũ Hành Sơn.

3. Thành tựu ứng dụng sinh học phân tử trong chăn nuôi được nêu trong khóa luận là gì? Trong nông nghiệp và chăn nuôi, tác giả nêu rõ việc ứng dụng các kỹ thuật di truyền phân tử PCR - RFLPs và Sequencing để phát hiện gen Halothane liên quan trực tiếp đến tỷ lệ nạc ở đàn vật nuôi.

4. Chỉ số phát triển công nghệ thông tin - truyền thông của Việt Nam đạt mức nào theo số liệu trong khóa luận? Theo số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông công bố ngày 26/12/2013 được trích dẫn trong văn bản, chỉ số phát triển CNTT - truyền thông của Việt Nam xếp hạng 81/141 quốc gia trên thế giới và đứng thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á (năm 2012).

5. Khóa luận đề xuất giải pháp gì về mặt tài chính và cơ sở vật chất cho KH&CN? Tác giả đề xuất Nhà nước phải đảm bảo tốc độ tăng chi ngân sách cho KH&CN phù hợp với tốc độ tăng thu ngân sách quốc gia, đa dạng hóa nguồn vốn từ doanh nghiệp, đồng thời thành lập "quỹ bảo trợ" để hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, sửa chữa, thay thế các trang thiết bị, máy móc thí nghiệm bị hư hỏng hoặc lạc hậu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận triết học Mác - Lênin về vai trò của KH&CN như một lực lượng sản xuất trực tiếp. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực trạng trên 4 phân ngành khoa học then chốt, công trình đã chỉ rõ những kết quả đạt được, các hạn chế nội tại và nguyên nhân căn bản của nền KH&CN Việt Nam giai đoạn 2010–2019. Hệ thống các giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp các định hướng thiết thực nhằm hoàn thiện chính sách, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.