Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Khái niệm liên quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 1. Khái niệm khoa học và công nghệ 1. Khoa học Theo từ điển Bách khoa Việt Nam của NXB Từ điển Bách Khoa, xuất bản năm 2005, “Khoa học” (tiếng Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ.
Thông qua các phương pháp nghiên cứu có kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật, hiện tượng. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được. Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa. Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2013) của Việt Nam định nghĩa: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”.
Công nghệ Theo từ điển Bách khoa Việt Nam của NXB Từ điển Bách Khoa, xuất bản năm 2005, “Công nghệ” (tiếng Anh: Technology) là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, 9 cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Công nghệ cũng có thể chỉ là một tập hợp những công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy trình. Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình. Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2013) của Việt Nam định nghĩa: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.[17] Hoạt động KH&CN theo Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2013) của nước ta được hiểu là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN.
Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 1. Khái niệm quản lý Quản lý nói chung được hiểu là một quá trình tổ chức, điều hành do chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định. Khái niệm quản lý nhà nước QLNN là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước. Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 10 QLNN về KH&CN là dạng quản lý mà trong đó, chủ thể quản lý chính là Nhà nước.
Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước bộ máy hành chính nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực hoạt động KH&CN.[4] QLNN về KH&CN bao gồm các nội dung như: xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, quản lý các hướng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ trọng yếu; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; xây dựng, ban hành, quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; đào tạo nhân lực, hợp tác quốc tế về KH&CN. Đặc điểm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ QLNN về KH&CN cũng có những đặc điểm chung của QLNN như sau: Tính quyền lực QLNN về KH&CN thông qua việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ban hành các quyết định quản lý tác động lên các đối tượng trong xã hội. Để đảm bảo việc thực thi đúng, điều này phải dựa vào quyền lực nhà nước. Chỉ có quyền lực nhà nước mới đảm bảo cho các cơ quan quản lý thực hiện việc tổ chức, điều chỉnh bằng các biện pháp cưỡng chế khác nhau.
Quyền lực nhà nước và QLNN là hai mặt của một vấn đề, không tách rời nhau. Thực hiện quyền lực chính là quản lý. Trong quá trình thực hiện quản lý, quyền lực được xem như là một trong các công cụ quan trọng nhất. Quyền lực nhà nước được thể hiện trước hết trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Do vậy, các văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình thực hiện đã đảm bảo cho QLNN. Về phần mình QLNN lại phải đảm bảo sao cho các quy phạm pháp luật được thực hiện một cách đầy đủ trong cuộc sống.[15] Tính tổ chức, điều chỉnh 11 Tác động QLNN về KH&CN rất phong phú, đa dạng, có nhiều đặc trưng và có ý nghĩa riêng. Sự tác động này đặt con người, các nhà nghiên cứu, khoa học vào các mối quan hệ tổ chức nhất định như quan hệ sản xuất, quan hệ công vụ… QLNN về KH&CN còn thể hiện sự tác động quản lý nhằm điều chỉnh các quan hệ trong quá trình vận động nhằm kích thích phát triển chung của khoa học công nghệ.[15] Tính khoa học, tính liên tục QLNN về KH&CN thể hiện khả năng tổ chức, điều chỉnh xã hội một cách có ý thức. Để đạt được hiệu quả cao, QLNN phải tuân theo các quy luật tự nhiên và xã hội.
Bởi vậy có thể nói rằng, tác động QLNN là một hình thức tác động có căn cứ khoa học. Tính liên tục của QLNN được thể hiện rõ nét trong mối liên hệ giữa quyền lực và quản lý. Tính liên tục là một đặc điểm quan trọng của các quá trình quản lý, nó đảm bảo khi luật khoa học công nghệ, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới KH&CN được ban hành thì các cấp, ngành, địa phương phải thực hiện đầy đủ và liên tục.[15] Tính khách quan Tính khách quan là đặc điểm của nghiên cứu khoa học và cũng là tiêu chuẩn của người nghiên cứu khoa học. Nếu trong nghiên cứu khoa học mà không khách quan thì sản phẩm nghiên cứu khoa học sẽ không thể chính xác và không có giá trị gì cả.
QLNN về KH&CN phải đảm bảo tính khách quan trong các nhiệm vụ khoa học, các thành quả khoa học có ý nghĩa và đóng góp chung cho nền khoa học công nghệ.[15] Tính rủi ro Nghiên cứu khoa học là quá trình tìm ra cái mới, vì vậy nó có thể thành công hoặc thất bại, thành công sớm hoặc thành công rất muộn. Vì vậy tính rủi ro của nó là rất cao. QLNN về KH&CN phải thực hiện công tác đánh giá các 12 nhiệm vụ khoa học thật tốt để giảm thiểu sự rủi ro trong việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ.[15] Tính kế thừa Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp nghiên cứu khoa học. Hầu hết các phương hướng nghiên cứu đều xuất phát và kế thừa từ các kết quả đã đạt được trước đó.[15] Tính kinh phí Nghiên cứu khoa học rất khó định lượng được một cách chính xác như trong lao động sản xuất và thậm chí có thể nói không thể định mức, hiệu quả kinh tế và lợi nhuận không thể xác định.
Các sản phẩm công nghệ cũng rất khó định giá khi nó là sản phẩm nghiên cứu có tính mới và chỉ định lượng một cách tương đối. QLNN về KH&CN thì lại đòi hỏi phải định lượng được kinh phí chi trả cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ, vì quản lý nhà nước phải dựa trên những số liệu thống kê được và đảm bảo phân bổ được nguồn kinh phí tới càng nhiều nhiệm vụ khoa học công nghệ để đạt được hiệu quả tốt nhất. Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Trong các nguồn lực phát triển KT-XH, KH&CN là một thành tố đóng vai trò quan trọng, xét về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy KH&CN luôn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tác động đến tổng cung và tổng cầu. Khoa học - công nghệ góp phần mở rộng khả năng phát hiện và khai thác có hiệu quả các nguồn lực, các sản phẩm khoa học - công nghệ đóng góp trực tiếp vào GDP, đồng thời quyết định tăng trưởng trong dài hạn và chất lượng tăng trưởng, tạo điều kiện chuyển đổi từ chiều rộng sang chiều sâu.
Khoa học - công nghệ phát triển với sự ra đời hàng loạt công nghệ mới làm tăng các yếu tố của sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, điều đó dẫn đến sự gia tăng chi tiêu 13 cho tiêu dùng dân cư và tăng đầu tư cho cả nền kinh tế. Khoa học - công nghệ phát triển làm tăng khả năng tiếp cận của con người với tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ qua các phương tiện thông tin và dịch vụ vận chuyển. Do vậy, trong thời đại ngày nay, phần đóng góp vào tăng trưởng và phát triển KT-XH của nhiều nước từ KH&CN là rất cao. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, đánh giá cao vai trò của KH&CN trong sự nghiệp CNH, HĐH, xác định KH&CN là động lực quan trọng thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Văn kiện trình Ðại hội XIII của Ðảng chứa đựng nhiều điểm mới, toàn diện và sâu sắc, trong đó, quan điểm phát triển KH&CN tiếp tục được nhấn mạnh: “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương KH&CN là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Có chiến lược phát triển KH&CN phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.