Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động logistics giữ vị trí huyết mạch trong chuỗi giá trị toàn cầu, đóng vai trò kết nối, hỗ trợ và thúc đẩy toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa của nền kinh tế. Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã mở ra cơ hội lớn cho ngành dịch vụ logistics. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: chất lượng dịch vụ còn hạn chế, chi phí vận tải và lưu kho tăng cao, các mắt xích vận hành riêng lẻ thiếu tính liên kết hệ thống, hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ và khung khổ pháp lý còn phân tán. Các doanh nghiệp trong nước phần lớn có quy mô nhỏ, chủ yếu đảm nhận các phân khúc gia công phụ trợ và nhường phần lớn giá trị gia tăng cho các tập đoàn nước ngoài. Trước bối cảnh đó, khóa luận "Phát triển hoạt động Logistics tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp" được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và tìm kiếm các giải pháp đồng bộ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể theo văn bản:

  1. Về mặt lý thuyết: Cung cấp cơ sở lý luận nền tảng về logistics, làm rõ khái niệm, vai trò của logistics đối với nền kinh tế và hoạt động thương mại quốc tế, đồng thời hệ thống hóa các chỉ tiêu đánh giá và kinh nghiệm quốc tế.
  2. Về mặt thực tiễn: Phân tích sâu thực trạng phát triển hoạt động logistics tại Việt Nam giai đoạn 2016 đến tháng 4 năm 2021 dựa trên dữ liệu thứ cấp về hạ tầng, thị trường, doanh nghiệp và thể chế; từ đó nhận diện thành tựu, tồn tại và nguyên nhân.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị: Xây dựng các giải pháp vĩ mô, vi mô cùng kiến nghị gửi tới Chính phủ và Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) nhằm phát triển hoạt động logistics trong tương lai.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển logistics.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào tình hình phát triển hoạt động logistics tại Việt Nam trên các khía cạnh cơ sở hạ tầng, dịch vụ, doanh nghiệp và chính sách quản lý.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam trong mối liên hệ mạng lưới vận tải quốc tế.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập dữ liệu và khảo sát các biến động thực tế từ năm 2016 đến tháng 4 năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận logistics dưới góc độ kinh tế và quản trị kinh doanh quốc tế, kết hợp các định nghĩa học thuật và pháp lý:

  • Khái niệm logistics: Tổng hợp định nghĩa của Hội đồng quản trị Logistics Hoa Kỳ (1988), Liên Hợp Quốc, Đại học Hàng hải Thế giới (D. Lambert, 1998), Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng Hoa Kỳ (CSCMP, 2001) và Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (phiên âm là dịch vụ lô-gi-stíc).
  • Tiến trình phát triển: Lịch sử vận tải từ thời cổ đại (Ai Cập xây kim tự tháp Giza năm 2700 TCN, Hy Lạp chế tạo tàu có mái chèo năm 300 TCN), qua thời kỳ trung đại và cận đại (tổ chức vận tải biển tại Hamburg năm 1200, bưu chính châu Âu năm 1500, động cơ hơi nước năm 1800, container hóa đường biển năm 1956) đến các mô hình quản trị hiện đại như JIT (Just-In-Time) thập niên 1970-1980 tại Nhật Bản, mô hình QR (Quick Response) và ECR (Efficient Consumer Response) thập niên 1990. Đồng thời, văn bản sử dụng phân loại 3 giai đoạn của Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP): Phân phối vật chất, Hệ thống logistics và Quản trị chuỗi cung ứng.
  • Phân loại logistics: Theo hình thức cung ứng dịch vụ (1PL, 2PL, 3PL, 4PL, 5PL); theo quá trình vận hành (Logistics đầu vào - Inbound, Logistics đầu ra - Outbound, Logistics ngược - Reverse); theo phạm vi chuyên ngành (hàng tiêu dùng nhanh - FMCG, ô tô, hóa chất, điện tử, dầu khí, quân sự, sự kiện, dịch vụ).
  • Tiêu chí đánh giá năng lực logistics: Sử dụng Chỉ số năng lực quốc gia về Logistics (LPI) của Ngân hàng Thế giới với 6 tiêu chí LPI quốc tế (Hạ tầng, Giao hàng, Năng lực, Truy xuất, Thời gian, Thông quan) và 4 tiêu chí LPI trong nước. Văn bản áp dụng khung phân nhóm LPI đánh giá trình độ phát triển của tác giả Đinh Lê Hải Hà (2012):
Nhóm trình độ Khoảng giá trị chỉ số LPI
Nhóm 1 1,00 < LPI < 2,48
Nhóm 2 2,48 ≤ LPI < 2,75
Nhóm 3 2,75 ≤ LPI < 3,23
Nhóm 4 3,23 ≤ LPI ≤ 5,00

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Đối với cơ sở lý luận: Áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, diễn dịch, quy nạp, liệt kê và so sánh đối chiếu các quan điểm học thuật.
  • Đối với đánh giá thực trạng: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích số liệu thứ cấp, so sánh chỉ số định lượng qua các giai đoạn. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Ngân hàng Thế giới (World Bank), Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương (Báo cáo Logistics Việt Nam các năm, trọng tâm là năm 2020), Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) và số liệu khảo sát của Công ty CEL Consulting.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động logistics

Chương này trình bày toàn diện lý luận về ngành logistics, phân tích vai trò vĩ mô và vi mô, đồng thời tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế. Về mặt kinh tế vĩ mô, tác giả dẫn chứng lý thuyết của nhà kinh tế học Ulman về khoảng cách kinh tế và số liệu đóng góp 10% GDP của ngành logistics tại Mỹ. Về vi mô, dẫn nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Logistics Hoa Kỳ chỉ ra chi phí logistics ở các nước phát triển chiếm từ 10% đến 13% GDP, trong khi ở các nước đang phát triển con số này lên tới 15% đến 20% GDP; số liệu của UNCTAD cho thấy chi phí vận tải biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB và 8-9% giá CIF; số liệu Liên Hợp Quốc ước tính chi phí chứng từ giấy tờ rườm rà từng tiêu tốn 420 tỷ USD mỗi năm, tương đương 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế.

Tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài bao gồm: chính trị - pháp luật (dẫn chứng bất ổn tại Belarus tháng 8/2020 gây thiệt hại 500 triệu USD), kinh tế vĩ mô, trình độ công nghệ, điều kiện tự nhiên - vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng cứng và mềm, mức độ cạnh tranh ngành và yêu cầu của khách hàng. Các nhân tố bên trong gồm: chất lượng nguồn nhân lực, quy mô doanh nghiệp, trình độ quản trị và mạng lưới đại lý.

Phần kinh nghiệm quốc tế nghiên cứu thực tiễn tại ba quốc gia:

  • Singapore: Luôn nằm trong top 5 bảng xếp hạng LPI thế giới; triển khai hệ thống công nghệ thông tin điều hành cảng Marinet (từ 1999), CITOS, PORTNET, BOXNET và FAST-CONNECT (giúp rút ngắn thời gian điều tàu giữa hai lượt từ 8 giờ xuống 2 giờ); phát hành 92 tỷ SGD trái phiếu chính phủ để nâng cấp hạ tầng; áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 17%; thu hút 14,3 tỷ SGD vốn FDI trong nửa đầu năm 2020; xây dựng tổ hợp Supply Chain City 5 tầng cao 45 mét với hệ thống kho tự động Fusionaris - ASRS; ban hành chính sách thị thực Tech.pass; thu hút 20 trong tổng số 25 tập đoàn logistics hàng đầu thế giới đặt trụ sở điều phối.
  • Trung Quốc: Tận dụng cam kết WTO đối với phương thức cung cấp dịch vụ mode 1, mode 2 và mode 3 (cho phép thành lập liên doanh hàng hải treo cờ Trung Quốc với tỷ lệ vốn nước ngoài tối đa 49%); từng bước dỡ bỏ hạn chế, cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong giao nhận, vận tải đường bộ (sau 3 năm liên doanh), chuyển phát nhanh và kho bãi.
  • Nhật Bản: Xây dựng hệ thống cầu vượt biển liên kết 4 đảo lớn (Honshu, Kyushu, Hokkaido, Shikoku); ban hành chính sách hỗ trợ bán đất giá rẻ để tư nhân xây dựng kho vận; định kỳ ban hành chiến lược phát triển logistics toàn diện từ năm 1997 gắn với việc giải quyết các thách thức xã hội và môi trường.

Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động logistics ở Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng hệ sinh thái logistics Việt Nam từ khung pháp lý đến hạ tầng giao thông và năng lực vận hành:

  • Cơ sở pháp lý: Điều chỉnh bởi Luật Thương mại 2005 (Điều 233 đến 240), Bộ luật Hàng hải 2015, Luật Đầu tư 2014, Luật Hải quan 2014 cùng các Nghị định 163/2017/NĐ-CP, Nghị định 87/2009/NĐ-CP, Nghị định 89/2011/NĐ-CP và Nghị định 140/2007/NĐ-CP. Tồn tại hạn chế lớn là thiếu vắng khung pháp lý riêng cho thương mại điện tử (e-logistics) và cơ chế quản lý nhà nước còn chồng chéo giữa nhiều bộ, ban, ngành.
  • Mạng lưới hạ tầng giao thông:
    • Đường sắt: Tổng chiều dài 3.143 km (gồm 2.703 km tuyến chính và 612 km đường ga, đường nhánh); có 4 ga liên vận quốc tế phía Bắc (Lào Cai, Đồng Đăng, Yên Viên, Hải Phòng), chưa có ga liên vận ở miền Trung và miền Nam; khổ đường 1.000 mm không tương thích với khổ 1.435 mm của Trung Quốc (chỉ chạy đến Khai Viễn - Vân Nam); kho bãi đường sắt cũ kỹ với diện tích gần 39.000 m2; ga Sóng Thần năm 2019 chỉ được cấp 200 triệu đồng kinh phí duy tu dù thông qua hàng triệu tấn hàng, đến năm 2020 mới xây thêm 2.000 m2 kho tạm; thiếu hoàn toàn đường sắt kết nối Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.
    • Đường bộ: Hệ thống có hơn 600.000 km đường các loại và hơn 1.000 km đường cao tốc đang vận hành; tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh dài 115 km với tổng mức đầu tư 21.000 tỷ đồng kết nối Lạch Huyện - Trùng Khánh - Khorgos - châu Âu; vận tải đường bộ đảm nhận 74,35% tổng khối lượng hàng hóa lưu chuyển (số liệu tháng 10/2020); năm 2020 bố trí 8.000 tỷ đồng cho 10 dự án nâng cấp và chuyển đổi 19 dự án từ PPP sang đầu tư công.
    • Đường biển: Tận dụng bờ biển 3.260 km, tập trung lưu lượng tại Hải Phòng, Đình Vũ ở phía Bắc và Cái Mép - Thị Vải ở phía Nam; năng lực đội tàu nội địa hạn chế (chủ yếu là tàu trọng tải 80); thu hút đầu tư nước ngoài từ Hutchison Port Holding (Cảng quốc tế Sài Gòn) và DP World (cảng SPCT); kho bãi đường biển đứng thứ 4 trong ASEAN nhưng chi phí kho cao hơn Thái Lan 19%.
    • Đường hàng không: Có 22 cảng hàng không dân dụng, 70 hãng bay quốc tế hoạt động; 3 hãng trong nước (Vietnam Airlines, Jetstar Pacific, Vietjet Air) chỉ chiếm lĩnh 12% thị phần vận chuyển hàng hóa quốc tế, 88% thị phần thuộc về các hãng bay nước ngoài; chỉ có sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất xây dựng ga hàng hóa chuyên biệt; Nội Bài đã phát triển thêm mô hình kho hàng không kéo dài.
    • Đường thủy nội địa: 9 tháng đầu năm 2020 vận chuyển 238,1 triệu tấn (giảm 7,6%); toàn quốc chỉ khai thác được 40% hạ tầng, 60-65% công suất phương tiện và 60% số bến cảng; có 250 trên tổng số 700 cây cầu bắc qua sông không đảm bảo tĩnh không (tiêu biểu cầu Đuống tĩnh không dưới 3m trên tuyến Hải Phòng - Phả Lại - Việt Trì); đội tàu manh mún (chỉ 1/3 phương tiện thuộc mô hình hợp tác xã), thời hạn vay vốn ngân hàng ngắn (5 năm).
  • Hệ thống kho bãi và trung tâm logistics:
    • Kho ngoại quan: Toàn quốc có 96 kho ngoại quan; U&I Logistics là đơn vị lớn nhất với diện tích 1,1 triệu m2, ứng dụng phần mềm WMS, EDI và phần mềm thông quan tự động ECUS5-VNACCS.
    • Kho lạnh: Tính đến tháng 12/2019, toàn quốc có 48 kho lạnh với tổng công suất 600.000 pallets (36 kho ở miền Nam, 11 kho ở miền Bắc và chỉ 1 kho ở miền Trung); chỉ đáp ứng 30-35% nhu cầu với tỷ lệ lấp đầy bình quân 80%; khảo sát của CEL Consulting cho thấy 66,7% kho lạnh phục vụ xuất khẩu, chỉ 8,2% phục vụ thị trường nội địa; tổng quy mô thị trường chuỗi lạnh vượt 10 tỷ USD.
  • Đánh giá thực trạng: Nhận định các hạn chế lớn gồm chi phí logistics trên GDP còn cao, quy mô doanh nghiệp manh mún, thiếu nguồn nhân lực được đào tạo bài bản và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp thành viên VLA.

Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động logistics ở Việt Nam

Chương 3 xây dựng các định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới: logistics gắn liền với thương mại điện tử, xu hướng mua bán và sáp nhập (M&A) để tích tụ quy mô, đẩy mạnh chuyển đổi số (áp dụng IoT, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa kho hàng) và phát triển chuỗi cung ứng logistics xanh nhằm cắt giảm phát thải khí nhà kính.

Từ định hướng trên, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể:

  • Nhóm giải pháp vĩ mô: Hoàn thiện thể chế pháp lý về dịch vụ logistics và e-logistics; quy hoạch hạ tầng giao thông vận tải đồng bộ, chú trọng kết nối đa phương thức giữa đường bộ, đường sắt và đường thủy; cải cách thủ tục hành chính, đẩy nhanh tốc độ thông quan hải quan; xây dựng chính sách đất đai và nguồn vốn ưu đãi để phát triển các trung tâm logistics thế hệ mới.
  • Nhóm giải pháp vi mô: Các doanh nghiệp logistics cần đầu tư chuẩn hóa quy trình quản trị, áp dụng phần mềm WMS, SCM, hệ thống mã vạch và trao đổi dữ liệu điện tử EDI; chủ động mở rộng mạng lưới đại lý liên kết trong và ngoài nước; đào tạo nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, ngoại ngữ và năng lực số cho người lao động.
  • Kiến nghị với Chính phủ: Ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư hạ tầng chuỗi kho lạnh và vận tải đường sắt; tháo gỡ điểm nghẽn về tĩnh không cầu đường thủy nội địa; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các gói tín dụng trung và dài hạn.
  • Kiến nghị với Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA): Nâng cao vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý; tổ chức các chương trình đào tạo chuẩn hóa kỹ năng nghề; đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hỗ trợ hội viên tiếp cận giải pháp chuyển đổi số.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa được nhiều chỉ số thực trạng của hệ thống logistics Việt Nam tính đến thời điểm đầu năm 2021:

Lĩnh vực khảo sát Dữ liệu định lượng trích xuất từ văn bản
Hạ tầng đường bộ Hơn 600.000 km đường bộ, hơn 1.000 km cao tốc; đảm nhận 74,35% khối lượng hàng hóa vận chuyển (tháng 10/2020); vốn đầu tư cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh đạt 21.000 tỷ đồng (115 km).
Hạ tầng đường sắt Chiều dài 3.143 km (2.703 km tuyến chính); 4 ga liên vận quốc tế phía Bắc; diện tích kho bãi đạt gần 39.000 m2; ga Sóng Thần chỉ có 200 triệu đồng kinh phí duy tu năm 2019.
Hạ tầng hàng không 22 cảng hàng không dân sự, 70 hãng bay quốc tế; 3 hãng hàng không nội địa chỉ vận chuyển 12% hàng hóa quốc tế, 88% do hãng ngoại chi phối; chỉ có 2 ga hàng hóa chuyên biệt tại Nội Bài và Tân Sơn Nhất.
Đường thủy nội địa 9 tháng đầu năm 2020 vận chuyển 238,1 triệu tấn (giảm 7,6%); 250/700 cây cầu không đảm bảo tĩnh không (cầu Đuống tĩnh không < 3m); chỉ khai thác 40% hạ tầng và 60-65% công suất phương tiện.
Hệ thống kho bãi 96 kho ngoại quan (U&I Logistics sở hữu diện tích 1,1 triệu m2); 48 kho lạnh với 600.000 pallets (36 kho miền Nam, 11 miền Bắc, 1 miền Trung), đáp ứng 30-35% nhu cầu; thị trường chuỗi lạnh đạt quy mô trên 10 tỷ USD.

Đóng góp tự nêu của khóa luận:

  • Bổ sung và cập nhật dữ liệu: Khắc phục khoảng trống thời gian của các công trình trong nước trước đây (như giáo trình của GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân năm 2003 hay luận án tiến sĩ của Đinh Lê Hải Hà năm 2012 vốn sử dụng chuỗi số liệu từ năm 2006 đến trước năm 2013). Đề tài đã phản ánh sát thực diễn biến thị trường giai đoạn 2016-2021, bổ sung các tác động từ dịch bệnh Covid-19 và sự trỗi dậy của thương mại điện tử.
  • Đảm bảo tính ứng dụng địa phương: Khắc phục hạn chế của các bài báo quốc tế (như nghiên cứu của Mark Goh et al., 2017 hay Alexandra Lagorio et al., 2016) vốn chỉ nghiên cứu khái quát ở tầm khu vực châu Á hoặc đô thị phương Tây, giúp đưa ra những đánh giá trực diện về hệ thống kết cấu hạ tầng và doanh nghiệp tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận hoàn thành vào tháng 5/2021 nên phạm vi dữ liệu thực tế chỉ cập nhật đến tháng 4/2021. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên tổng hợp số liệu thứ cấp từ báo cáo của các cơ quan quản lý và hiệp hội, chưa tiến hành điều tra khảo sát định lượng sơ cấp trực tiếp từ các doanh nghiệp dịch vụ logistics. Bên cạnh đó, việc thiếu hụt số liệu thống kê chuẩn hóa ở một số phương thức vận tải và chi phí logistics quốc gia khiến một số đánh giá phải dựa trên ước tính gián tiếp.
  • Hướng mở rộng: Các nghiên cứu tiếp theo cần triển khai điều tra thực chứng diện rộng đối với doanh nghiệp logistics để đánh giá chi tiết mức độ chuyển đổi số, đo lường tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP) và xây dựng mô hình định lượng tính toán chi phí logistics logistics xanh tại Việt Nam giai đoạn hậu đại dịch.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng khi tìm kiếm tư liệu tổng hợp về hệ thống logistics Việt Nam giai đoạn 2016-2021. Các số liệu chi tiết về hiện trạng kỹ thuật của từng phương thức vận tải (chiều dài đường sắt, tĩnh không cầu đường thủy, thị phần vận tải hàng không, tỷ lệ kho ngoại quan và chuỗi kho lạnh) có giá trị thực tiễn đối với các nhà nghiên cứu chính sách giao thông vận tải, quy hoạch phát triển trung tâm logistics và các chuyên viên phân tích thị trường logistics. Ngoài ra, phần tổng kết kinh nghiệm ứng dụng công nghệ điều hành cảng biển của Singapore là tư liệu tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp đang tìm kiếm giải pháp chuyển đổi số quản trị kho bãi và giao nhận vận tải.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống kho lạnh tại Việt Nam tính đến cuối năm 2019 đạt quy mô và tỷ lệ đáp ứng nhu cầu như thế nào? Tính đến tháng 12/2019, toàn quốc có 48 kho lạnh với tổng công suất thiết kế 600.000 pallets. Sự phân bổ diễn ra mất cân đối nghiêm trọng: 36 kho đặt tại miền Nam, 11 kho tại miền Bắc và chỉ có duy nhất 1 kho tại miền Trung. Hệ thống này mới đáp ứng được khoảng 30% đến 35% nhu cầu thực tế của thị trường với tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt 80%. Theo khảo sát của CEL Consulting, 66,7% kho lạnh phục vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, trong khi chỉ 8,2% phục vụ các nhà sản xuất cho thị trường nội địa.

2. Thị phần vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường hàng không của các hãng hàng không nội địa được ghi nhận ở mức nào? Mặc dù Việt Nam có 22 cảng hàng không dân sự và 70 hãng hàng không quốc tế khai thác các đường bay, cả ba hãng hàng không lớn trong nước (Vietnam Airlines, Jetstar Pacific và Vietjet Air) chỉ chiếm lĩnh 12% tổng thị phần vận tải hàng hóa quốc tế. 88% thị phần còn lại hoàn toàn do các hãng hàng không quốc tế nắm giữ do đội bay trong nước chủ yếu chở hàng kết hợp trong khoang bụng máy bay chở khách, chưa đầu tư máy bay chuyên chở hàng hóa (freighter).

3. Những rào cản kỹ thuật chính đối với hạ tầng đường sắt và đường thủy nội địa được chỉ ra là gì? Đối với đường sắt, rào cản lớn là khổ đường 1.000 mm không đồng bộ với khổ ray 1.435 mm của Trung Quốc (tàu khổ 1.000 mm qua cửa khẩu Lào Cai chỉ đi sâu tối đa đến ga Khai Viễn - Vân Nam); thiếu hụt ngân sách duy tu (ga Sóng Thần lớn nhất phía Nam năm 2019 chỉ được cấp 200 triệu đồng) và hoàn toàn vắng bóng đường sắt tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Đối với đường thủy nội địa, có tới 250 trên 700 cây cầu bắc qua sông không đảm bảo tĩnh không an toàn (điển hình cầu Đuống tĩnh không dưới 3m), luồng lạch ít được nạo vét định kỳ khiến toàn ngành mới chỉ khai thác được 40% năng lực hạ tầng và 60-65% công suất phương tiện.

4. Chính phủ Singapore đã áp dụng những hệ thống công nghệ thông tin và chính sách tài khóa nào để phát triển logistics? Singapore đã đưa vào vận hành hệ thống Marinet từ năm 1999 cùng hàng loạt phần mềm chuyên biệt: CITOS (điều hành bến bãi, cầu tàu bằng mạng không dây), PORTNET (trao đổi dữ liệu điện tử 24/24 giữa cảng và chủ hàng), BOXNET (điều phối phương tiện vận tải ra vào cảng) và FAST-CONNECT (cắt giảm thời gian điều tàu giữa hai lượt từ 8 giờ xuống 2 giờ). Về chính sách, chính phủ nước này phát hành 92 tỷ SGD trái phiếu để tài trợ hạ tầng, áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 17%, cấp thị thực công nghệ Tech.pass và đầu tư tổ hợp kho tự động Supply Chain City cao 45m tích hợp hệ thống lưu kho Fusionaris - ASRS.

5. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động logistics tại Việt Nam gặp phải những bất cập cụ thể nào? Hoạt động logistics chịu sự điều chỉnh phân tán ở nhiều văn bản luật khác nhau (Luật Thương mại 2005, Bộ luật Hàng hải 2015, Luật Đầu tư 2014, Luật Hải quan 2014) và các Nghị định 163/2017/NĐ-CP, 87/2009/NĐ-CP, 89/2011/NĐ-CP, 140/2007/NĐ-CP. Bất cập lớn nhất là chưa có quy định pháp lý riêng biệt điều chỉnh phân ngành logistics thương mại điện tử (e-logistics), đồng thời mô hình quản lý nhà nước phân tán qua nhiều bộ, ban, ngành khiến doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính chồng chéo, kéo dài thời gian thông quan và gia tăng chi phí giao dịch.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hà đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực trạng phát triển ngành logistics tại Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2021. Bằng việc phân tích chi tiết dữ liệu thứ cấp trên 5 phương thức vận tải cùng hệ thống kho bãi, tác giả đã chỉ rõ những điểm nghẽn hạ tầng và thể chế đang kìm hãm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa. Kết hợp với bài học kinh nghiệm quốc tế từ Singapore, Trung Quốc và Nhật Bản, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp vĩ mô và vi mô sát với thực tiễn nhằm định hướng phát triển ngành logistics theo hướng số hóa, tích tụ quy mô và logistics xanh.