Luận Văn Thạc Sĩ Về Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Trong Điều Kiện Hội Nhập Quốc Tế

Luận văn thạc sĩ UEB phân tích sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cung cấp cái nhìn sâu sắc và chiến lược.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Thạc Sĩ

2007

144
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1. Một số lý luận chung về thị trường chứng khoán

1.1.1. Bản chất của thị trường chứng khoán

1.1.2. Những quan điểm khác nhau về bản chất của thị trường chứng khoán

1.2. Đặc điểm của thị trường chứng khoán

1.2.1. Các hình thức tồn tại của TTCK

1.2.2. Các chức năng cơ bản của TTCK

1.3. Những cấu thành và định hướng cơ bản quyết định sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong trình hội nhập quốc tế

1.3.1. Chứng khoán - một loại tư bản giả, hàng hóa đặc biệt - trong nền kinh tế thị trường

1.3.2. Sự ra đời của hàng hóa chứng khoán. Các thuộc tính đặc thù của hàng hóa chứng khoán

1.3.3. Tạo lập đầy đủ các loại hình chứng khoán để phát triển và hội nhập quốc tế cho TTCK Việt Nam

1.4. Cầu chứng khoán và các nhân tố thúc đẩy phát triển và hội nhập TTCK

1.4.1. Cầu chứng khoán trên thị trường

1.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng và tác động đến sự phát triển và hội nhập của TTCK từ phía cầu

1.5. Cung chứng khoán và các nhân tố thúc đẩy phát triển và hội nhập của TTCK nước ta

1.5.1. Cung chứng khoán và các đặc điểm

1.5.2. Các nhân tố cơ bản thúc đẩy nguồn cung nhằm phát triển và hội nhập của thị trường chứng khoán Việt Nam

1.6. Sự xác lập giá cả trên TTCK và cơ chế quản lý của nhà nước

1.6.1. Sự hình thành giá cả thị trường của chứng khoán

1.6.2. Điều chỉnh nhà nước trong hình thành giá cả chứng khoán trên thị trường

1.7. Kinh nghiệm về phát triển và hội nhập TTCK của một số quốc gia chuyển đổi tương đồng với Việt Nam

1.7.1. Kinh nghiệm tái lập thị trường chứng khoán của các quốc gia chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường

1.7.1.1. Kinh nghiệm tái lập thị trường chứng khoán của Liên Bang Nga trong điều kiện hội nhập quốc tế
1.7.1.2. Kinh nghiệm tái lập và phát triển thị trường chứng khoán trong điều kiện hội nhập quốc tế của Trung Quốc

1.7.2. Những bài học gợi ý cho Việt Nam về phát triển thị trường chứng khoán trong điều kiện hội nhập quốc tế

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

2.1. Sự ra đời và những đặc trưng chủ yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.1. Sự ra đời của Thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.2. Tạo lập các tiền đề cho sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.3. Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam và các thành tựu trong 7 năm tồn tại và hoạt động của nó

2.2. Những đặc trưng chủ yếu của Thị trường chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

2.2.1. Lần đầu tiên xuất hiện dưới tác động của nhà nước nên cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của thị trường chứng khoán chưa hoàn thiện

2.2.2. Việc ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam phải đối diện với những cơ hội và thách thức to lớn của hội nhập kinh tế

2.3. Thực trạng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI

2.3.1. Thực trạng nguồn cung cho Thị trường chứng khoán từ khi thành lập đến đầu năm 2007 ở Việt Nam

2.3.1.1. Tạo lập nguồn cung chứng khoán cho thị trường thông qua cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
2.3.1.2. Thực trạng nguồn cung chứng khoán cho thị trường từ phát hành các chứng chỉ có giá của chính phủ và quỹ của các loại công ty

2.3.2. Thực trạng cầu và sự biến động giá cả trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2.3.2.1. Thực trạng cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam 7 năm kể từ khi ra đời
2.3.2.2. Sự biến động giá cả trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ tháng 7/2000 đến tháng 7/2007

2.3.3. Đầu cơ và rủi ro là các nhân tố tác động mạnh vào cung - cầu và hình thành giá cả trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2.3.4. Thực trạng tổ chức - quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

3.1. Triển vọng và phương hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

3.1.1. Triển vọng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

3.1.2. Phương hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

3.1.2.1. Phương hướng thứ nhất là củng cố và phát triển vững chắc nguồn cung chứng khoán
3.1.2.2. Phương hướng thứ hai là kích thích, khơi dậy và nâng cao khối cầu chứng khoán trong và ngoài nước
3.1.2.3. Phương hướng thứ ba là hoàn thiện hệ thống tổ chức – quản lý thị trường chứng khoán của nhà nước
3.1.2.4. Phương hướng thứ tư là đẩy nhanh tiến trình hội nhập thị trường chứng khoán Việt Nam vào thị trường tài chính quốc tế để phát triển

3.2. Các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

3.2.1. Những giải pháp tác động tới việc hoàn thiện thể chế của thị trường chứng khoán Việt Nam

3.2.1.1. Giải pháp về hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK
3.2.1.2. Nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với TTCK
3.2.1.3. Nâng cao và mở rộng vai trò tác nghiệp của các trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán và trung tâm lưu ký chứng khoán
3.2.1.4. Giải pháp về đào tạo, nghiên cứu, tuyên truyền

3.2.2. Nhóm giải pháp tác động tới điều tiết quan hệ cung - cầu của thị trường chứng khoán Việt Nam

3.2.2.1. Tăng cung chứng khoán cho thị trường cả về số lượng, chất lượng
3.2.2.2. Thực hiện các biện pháp kích cầu trên thị trường chứng khoán

3.2.3. Nhóm giải pháp thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của thị trường chứng khoán Việt Nam

3.2.3.1. Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng tài chính quốc gia bền vững và có hiệu quả
3.2.3.2. Hoạch định một lộ trình hội nhập phù hợp
3.2.3.3. Xác lập một hệ thống chính sách điều tiết vĩ mô đối với lĩnh vực tài chính linh hoạt và hiệu quả
3.2.3.4. Áp dụng các chuẩn mực về quản trị công ty cho các doanh nghiệp

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: CÁC CAM KẾT TRONG HĐTM VIỆT NAM - HOA KỲ VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ TTCK

PHỤ LỤC 2: NỘI DUNG HỢP TÁC TRONG KHUÔN KHỔ ASEAN+3

PHỤ LỤC 3: CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC VỀ HỢP TÁC TÀI CHÍNH ASEAN giai đoạn 1999-2004

PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

PHỤ LỤC 5: DANH SÁCH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN TTGD TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển đáng kể từ khi ra đời vào năm 2000. Sự hội nhập quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho thị trường này. Việc hiểu rõ về thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh hội nhập là rất cần thiết để phát triển bền vững.

1.1. Lịch Sử Hình Thành Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập vào năm 2000, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế thị trường. Sự ra đời này không chỉ tạo ra một kênh huy động vốn mới mà còn thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước.

1.2. Đặc Điểm Nổi Bật Của Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam có những đặc điểm riêng biệt như quy mô nhỏ, tính thanh khoản thấp và sự tham gia của các nhà đầu tư cá nhân chiếm ưu thế. Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển và hội nhập của thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa.

II. Thách Thức Đối Với Thị Trường Chứng Khoán Trong Hội Nhập Quốc Tế

Hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Các vấn đề như rủi ro đầu tư, cạnh tranh từ các thị trường lớn hơn và yêu cầu về minh bạch thông tin là những thách thức cần được giải quyết.

2.1. Rủi Ro Đầu Tư Trên Thị Trường Chứng Khoán

Rủi ro đầu tư là một trong những vấn đề lớn nhất mà các nhà đầu tư phải đối mặt. Sự biến động của thị trường có thể dẫn đến những tổn thất lớn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập với các thị trường quốc tế.

2.2. Cạnh Tranh Từ Các Thị Trường Khác

Sự cạnh tranh từ các thị trường chứng khoán lớn như New York hay Tokyo tạo ra áp lực lớn cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý và nhà đầu tư phải có những chiến lược phù hợp để duy trì sức cạnh tranh.

III. Phương Pháp Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

Để phát triển bền vững, thị trường chứng khoán Việt Nam cần áp dụng các phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao tính minh bạch và thu hút đầu tư. Các chính sách tài chính và quản lý rủi ro là những yếu tố quan trọng trong quá trình này.

3.1. Cải Thiện Chính Sách Tài Chính

Cải thiện chính sách tài chính là cần thiết để tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn. Các biện pháp như giảm thuế cho nhà đầu tư và tăng cường hỗ trợ từ chính phủ có thể giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

3.2. Tăng Cường Quản Lý Rủi Ro

Quản lý rủi ro hiệu quả là yếu tố quan trọng để bảo vệ các nhà đầu tư. Việc xây dựng các công cụ tài chính phức tạp và hệ thống giám sát chặt chẽ sẽ giúp giảm thiểu rủi ro trên thị trường.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Thị Trường Chứng Khoán

Nghiên cứu về thị trường chứng khoán Việt Nam đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp phát triển hiện đại có thể mang lại kết quả tích cực. Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy sự cần thiết phải cải cách và đổi mới để phù hợp với xu thế toàn cầu.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tăng Trưởng Thị Trường

Các nghiên cứu cho thấy rằng thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng kể trong những năm qua. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

4.2. Ứng Dụng Các Mô Hình Phát Triển Quốc Tế

Việc áp dụng các mô hình phát triển từ các quốc gia khác có thể giúp thị trường chứng khoán Việt Nam cải thiện hiệu quả hoạt động. Các bài học từ các thị trường thành công sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển trong tương lai.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

Tương lai của thị trường chứng khoán Việt Nam phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi trong môi trường kinh tế toàn cầu. Việc xây dựng một lộ trình hội nhập rõ ràng và hiệu quả sẽ là chìa khóa cho sự phát triển bền vững.

5.1. Triển Vọng Phát Triển Thị Trường

Triển vọng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam là rất khả quan nếu có những chính sách đúng đắn và sự hỗ trợ từ chính phủ. Sự phát triển này không chỉ mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư mà còn cho nền kinh tế quốc dân.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Đề xuất các chính sách hỗ trợ cho thị trường chứng khoán là cần thiết để tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi. Các biện pháp như tăng cường giáo dục tài chính và nâng cao nhận thức của nhà đầu tư sẽ giúp thị trường phát triển mạnh mẽ hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb phát triển thị trường chứng khoán việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một thời kỳ tách rời ngày càng xa nền kinh tế tài chính tiền tệ khỏi nền sản xuất vật chất trên 7 phạm vi toàn cầu.2 Đặc điểm của thị trường chứng khoán Thị trƣờng chứng khoán có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, nó là một định chế tài chính trực tiếp. Khác với các hình thức gián tiếp, đầu tƣ thông qua chuyển hóa từ tƣ bản nhàn rỗi sang tƣ bản cho vay bởi các định chế tài chính trung gian nhƣ tín dụng ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác, từ đó tƣ bản sở hữu mới đƣợc chuyển hóa thành tƣ bản sử dụng. Ở TTCK , thông qua các sàn giao dịch (SGD ) chính thức hoặc không chính thức (OTC) vốn nhàn rỗi của dân cƣ đƣợc đầu tƣ trực tiếp vào các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thông qua sự đánh giá trực tiếp của các NĐT đối với doanh nghiệp trên cơ sở công khai hóa các hoạt động của nó trên thị trƣờng và dƣới tác động của các quy luật thị trƣờng. Qui tắc chi phối mạnh nhất đối với hành vi của các chủ thể thị trƣờng là lợi nhuận tối đa.

Thứ hai, TTCK là nơi các NĐT luôn gắn đƣợc quyền sở hữu tƣ bản với quyền sử dụng tƣ bản ( quyền sở hữu vốn với quyền sử dụng vốn ) mà không cần tích lũy đƣợc nguồn vốn đủ lớn để đứng ra tổ chức sản xuất kinh doanh. Ở đây NĐT liên tục và trực tiếp đƣa ra những quyết định đối với việc sử dụng tƣ bản của mình, tức là anh ta nhanh chóng di chuyển tƣ bản từ lĩnh vực này, doanh nghiệp này sang lĩnh vực và doanh nghiệp khác bằng cách mua bán các cổ phiếu của nó trên SGD. Nhƣ vậy, TTCK là nơi tạo lập đƣợc môi trƣờng thuận lợi để tƣ bản sở hữu và tƣ bản sử dụng gắn liền với nhau đẩy hầu hết các nhà tƣ bản ra khỏi lĩnh vực sản xuất trực tiết để trở thành một tầng lớp thực lợi, tầng lớp chuyên ngồi “cắt cổ phiếu” thu lợi nhuận và không cần biết sản xuất diễn ra nhƣ thế nào. Thứ ba, trên TTCK vốn của các NĐT tuy đang bị chôn chặt lại ở máy móc thiết bị nhà xƣởng nhƣng đƣợc tồn tại dƣới các chứng chỉ có giá, là các hình thức cổ phiếu khác nhau đại diện cho từng phần của nó với mệnh giá nhỏ lƣu thông trên TTCK cho phép các NĐT có thể đa dạng hóa kinh doanh, từ đó tạo nên sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế, làm cho tính xã hội hóa của tƣ bản cao hơn.

Thứ tư, TTCK là môi trƣờng tạo ra tính thanh khoản cao cho các luồng vốn tồn tại dưới hình thái tư bản giả, nhờ đó không chỉ tạo ra tính linh hoạt trong vận động của các luồng vốn, mà còn tạo ra sự minh bạch trong thẩm định hiệu quả hoạt động của các luồng vốn. Do đó hấp dẫn các NĐT hơn. 8 Thứ năm, TTCK là một môi trƣờng thuận lợi, một kênh truyền dẫn năng động có hiệu quả cho sự chuyển hóa tƣ bản từ sở hữu thuần trong tay tƣ nhân thành sở hữu xã hội, làm cho tính xã hội hóa của tƣ bản ngày càng tăng cao. Sự ra đời của các loại chứng chỉ có giá, đặc biệt là các cổ phiếu công ty và chúng chỉ đƣợc mua bán trao đổi trên TTCK nhƣ những hàng hóa làm cho bản chất của CNTB đang từng bƣớc chuyển sang mặt đối lập của mình.2 Các hình thức tồn tại và chức năng của TTCK 1.1 Các hình thức tồn tại của TTCK Xuất phát từ đặc điểm và cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, và từ đối tƣợng của chuyên ngành nghiên cứu đặt ra, ta thấy TTCK có các hình thức tồn tại sau: Thứ nhất, căn cứ vào nguồn cung chứng khoán có thể chia TTCK thành thị trƣờng sơ cấp ( cấp I) và thị trƣờng thứ cấp ( cấp II) -Thị trƣờng chứng khoán cấp I, là thị trƣờng nguồn cung nơi phát hành các chứng khoán lần đầu ra lƣu thông.

Ở đây các chứng khoán từ ngƣời phát hành đến tay các chủ thể thị trƣờng lần đầu. Nguồn vốn thu đƣợc từ thị trƣờng này trực tiếp đến tay các chủ thể phát hành để mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đƣa vào tiêu dùng cho các dịch vụ công. Chứng khoán cung ứng trên thị trƣờng cấp I đòi hỏi phải qua hàng loạt các thao tác nghiệp vụ theo các quy trình của luật pháp quốc gia nghiêm ngặt để bảo đảm tính “khả mại” và tính “thanh khoản” của chúng. Điều này chỉ có thể thực hiện đƣợc nhờ các bộ phận chức năng hoạt động về chứng khoán của nhà nƣớc nhƣ cơ quan tƣ vấn, đại lý, bảo lãnh phát hành.

Nguồn cung chứng khoán ở đây phải xuất phát từ nhu cầu về vốn của các chủ thể và phải đƣợc cân đối với phƣơng án lƣu thông vốn khác để tránh sự cản trở lẫn nhau. Về chủng loại chứng khoán thƣờng bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu các chứng chỉ của các quỹ đầu tƣ. Chứng khoán cung ứng trên thị trƣờng cấp I là tiền đề cho sự tồn tại và hoạt động trên thị trƣờng cấp II. Thị trƣờng chứng khoán cấp II chỉ làm chức năng phân phối các chứng khoán , do đó tuy trên TTCK cấp I có cả cung và cầu, song ngƣời ta vẫn gọi nó là thị trƣờng nguồn cung.

Sự điều tiết của nhà nƣớc ở thị trƣờng cần phải đƣợc thực hiện chặt chẽ để tránh rủi ro dẫn đến đổ vỡ không chỉ của TTCK mà còn đẩy nền kinh tế lâm vào khủng hoảng mà bài học lịch sử của nhiều quốc gia đã ghi nhận. Chẳng hạn “cơn sốt vàng” ở Caliphocnia ( Mỹ) năm 1884 là ví dụ điển hình. -Thị trƣờng chứng khoán thứ cấp (cấp II) là thị trƣờng phân phối lại các chứng 9 khoán do thị trƣờng cấp I phát hành theo nhu cầu về vốn của các chủ thể trong nền kinh tế. Thông qua sự biến động về giá cả của từng chủng loại chứng khoán khác nhau dƣới tác động điều tiết của các quy luật tâm lý, nguồn vốn sẽ dịch chuyển từ chủ thể đầu tƣ này sang các chủ thể đầu tƣ khác.

Nguồn vốn tuy không trực tiếp đổ vào các chủ thể phát hành, song nó tạo ra sự kích thích mạnh đối với doanh nghiệp và là một phƣơng tiện kiểm soát cả trực tiếp lẫn gián tiếp một cách có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhờ phát hành phụ thêm chứng khoán ra TTCK để tăng vốn cho doanh nghiệp. Đồng thời, trên thị trƣờng này cũng đặt các doanh nghiệp trƣớc những rủi ro bất thƣờng, thậm chí không xuất phát từ các nguyên nhân của chính doanh nghiệp, nên việc đƣa doanh nghiệp lên SGD khi và chỉ khi nội lực của doanh nghiệp đạt chuẩn do pháp luật và quy chế của UBCKNN đặt ra. -TTCK cấp I và cấp II luôn có mối quan hệ biện chứng, tạo thành một thể thống nhất của TTCK. Thứ hai, căn cứ vào phƣơng thức tổ chức hoạt động của TTCK ngƣời ta chia thành thị trƣờng tập trung và phi tập trung (OTC).

TTCK tập trung là thị trƣờng mà tại đó các chứng khoán đƣợc giao dịch, mua bán tại một địa điểm, gọi là sàn giao dịch ( trading floor) trong sở giao dịch chứng khoán ( SGDCK) hoặc thông qua hệ thống máy tính. Các chứng khoán đƣợc niêm yết tại SGDCK có đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn và đƣợc thẩm định theo các quy trình kỹ thuật- pháp lý chặt chẽ. Thông thƣờng đó là các chứng khoán của các công ty lớn có danh tiếng và đã trải qua các thử thách khắc nghiệt của sự điều tiết bởi các quy luật tâm lý- thị trƣờng, nên chúng có uy tín cao. Trên thị trƣờng tập trung, tại SGDCK, giá cả chứng khoán đƣợc hình thành thông qua quy trình đấu giá cạnh tranh và công khai hóa mọi thông tin liên quan đến hoạt động của các chủ thể phát hành, nên dễ dàng lƣờng đoán hơn sự biến động về giá cả của các chứng khoán trong tƣơng lai để đƣa ra quyết định mua , bán có độ tin cậy ít nhiều cao hơn ở thị trƣờng OTC.

Sở giao dịch là một cơ cấu thị trƣờng có tổ chức đặc biệt, là hạt nhân của TTCK tập trung, nơi tập trung, phân phối và phân phối lại các nguồn vốn đầu tƣ thông qua quá trình thiết lập và quản trị các danh mục đầu tƣ chứng khoán, do đó nó là cơ sở vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của TTCK quốc gia và là nơi sự can thiệp và điều tiết của nhà nƣớc để bình ổn TTCK đƣợc thực hiện dễ dàng hơn. Hiện nay, trên thế giới có gần 20 SGDCK danh tiếng nhƣ NewYork ( Mỹ), Tokyo ( Nhật Bản), London( Anh), Pari ( Pháp)… với nhiều SGD liên hoàn hệ thống và khống chế, chi phối 80% lƣợng chứng khoán giao dịch quốc gia nhƣ 10 SGDCK Tokyo, hoặc hơn 95% nhƣ SGDCK Milan và Pari [13, tr36]. Trong tiến trình toàn cầu hóa (TCH) nền kinh tế thế giới nhờ các thành tựu phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, ngƣơi ta có thể khớp lệnh thanh toán và lƣu ký chứng khoán trên phạm vi toàn cầu, do đó phát triển TTCK tập trung trở thành điều kiện không chỉ kích thích phát trển TTCK nội địa, mà còn là cơ sở để hội nhập TTCK quốc gia vào TTCK toàn cầu. -TTCK phi tập trung (OTC) là thị trƣờng, trong đó các giao dịch, mua bán các chứng khoán đƣợc thực hiện trực tiếp qua quầy của các ngân hàng, CTCK hay các tổ chức tƣơng tự tại bất cứ địa điểm và thời gian thuận lợi.

Giá cả chứng khoán ở đây đƣợc hình thành tự phát trên cơ sở thƣơng lƣợng và thoả thuận giữa ngƣời mua và ngƣời bán nên cùng một loại chứng khoán có giá cả khác nhau tuỳ thuộc vào khối lƣợng và thời gian giao dịch. Đây là thị trƣờng có lịch sử lâu đời nhất trong tiến trình phát triển TTCK của nhân loại. Khi công nghệ thông tin phát triển, dƣới sự lan toả của tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, giao dịch trên thị trƣờng OTC đƣợc thực hiện qua điện thoại hoặc mạng máy tính kiểu thị trƣờng NASDAQ ( Mỹ) xuất hiện từ 1971 và phát triển nhanh ở các nƣớc có TTCK phát triển hàng đầu thế giới. Nhờ thực hiện giao dịch chứng khoán qua mạng máy tính, thông qua một hệ thống các tổ chức môi giới tạo lập TTCK trung gian liên kết với nhau trải rộng khắp thế giới và đƣợc điều hành từ một trung tâm, OTC đã trở thành một thị trƣờng có tổ chức chặt chẽ ở các nƣớc tƣ bản phát triển hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ