mở đầu cho một thời kỳ tách rời ngày càng xa nền kinh tế tài chính tiền tệ khỏi nền sản xuất vật chất trên 7 phạm vi toàn cầu.2 Đặc điểm của thị trường chứng khoán Thị trƣờng chứng khoán có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, nó là một định chế tài chính trực tiếp. Khác với các hình thức gián tiếp, đầu tƣ thông qua chuyển hóa từ tƣ bản nhàn rỗi sang tƣ bản cho vay bởi các định chế tài chính trung gian nhƣ tín dụng ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác, từ đó tƣ bản sở hữu mới đƣợc chuyển hóa thành tƣ bản sử dụng. Ở TTCK , thông qua các sàn giao dịch (SGD ) chính thức hoặc không chính thức (OTC) vốn nhàn rỗi của dân cƣ đƣợc đầu tƣ trực tiếp vào các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thông qua sự đánh giá trực tiếp của các NĐT đối với doanh nghiệp trên cơ sở công khai hóa các hoạt động của nó trên thị trƣờng và dƣới tác động của các quy luật thị trƣờng. Qui tắc chi phối mạnh nhất đối với hành vi của các chủ thể thị trƣờng là lợi nhuận tối đa.
Thứ hai, TTCK là nơi các NĐT luôn gắn đƣợc quyền sở hữu tƣ bản với quyền sử dụng tƣ bản ( quyền sở hữu vốn với quyền sử dụng vốn ) mà không cần tích lũy đƣợc nguồn vốn đủ lớn để đứng ra tổ chức sản xuất kinh doanh. Ở đây NĐT liên tục và trực tiếp đƣa ra những quyết định đối với việc sử dụng tƣ bản của mình, tức là anh ta nhanh chóng di chuyển tƣ bản từ lĩnh vực này, doanh nghiệp này sang lĩnh vực và doanh nghiệp khác bằng cách mua bán các cổ phiếu của nó trên SGD. Nhƣ vậy, TTCK là nơi tạo lập đƣợc môi trƣờng thuận lợi để tƣ bản sở hữu và tƣ bản sử dụng gắn liền với nhau đẩy hầu hết các nhà tƣ bản ra khỏi lĩnh vực sản xuất trực tiết để trở thành một tầng lớp thực lợi, tầng lớp chuyên ngồi “cắt cổ phiếu” thu lợi nhuận và không cần biết sản xuất diễn ra nhƣ thế nào. Thứ ba, trên TTCK vốn của các NĐT tuy đang bị chôn chặt lại ở máy móc thiết bị nhà xƣởng nhƣng đƣợc tồn tại dƣới các chứng chỉ có giá, là các hình thức cổ phiếu khác nhau đại diện cho từng phần của nó với mệnh giá nhỏ lƣu thông trên TTCK cho phép các NĐT có thể đa dạng hóa kinh doanh, từ đó tạo nên sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế, làm cho tính xã hội hóa của tƣ bản cao hơn.
Thứ tư, TTCK là môi trƣờng tạo ra tính thanh khoản cao cho các luồng vốn tồn tại dưới hình thái tư bản giả, nhờ đó không chỉ tạo ra tính linh hoạt trong vận động của các luồng vốn, mà còn tạo ra sự minh bạch trong thẩm định hiệu quả hoạt động của các luồng vốn. Do đó hấp dẫn các NĐT hơn. 8 Thứ năm, TTCK là một môi trƣờng thuận lợi, một kênh truyền dẫn năng động có hiệu quả cho sự chuyển hóa tƣ bản từ sở hữu thuần trong tay tƣ nhân thành sở hữu xã hội, làm cho tính xã hội hóa của tƣ bản ngày càng tăng cao. Sự ra đời của các loại chứng chỉ có giá, đặc biệt là các cổ phiếu công ty và chúng chỉ đƣợc mua bán trao đổi trên TTCK nhƣ những hàng hóa làm cho bản chất của CNTB đang từng bƣớc chuyển sang mặt đối lập của mình.2 Các hình thức tồn tại và chức năng của TTCK 1.1 Các hình thức tồn tại của TTCK Xuất phát từ đặc điểm và cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, và từ đối tƣợng của chuyên ngành nghiên cứu đặt ra, ta thấy TTCK có các hình thức tồn tại sau: Thứ nhất, căn cứ vào nguồn cung chứng khoán có thể chia TTCK thành thị trƣờng sơ cấp ( cấp I) và thị trƣờng thứ cấp ( cấp II) -Thị trƣờng chứng khoán cấp I, là thị trƣờng nguồn cung nơi phát hành các chứng khoán lần đầu ra lƣu thông.
Ở đây các chứng khoán từ ngƣời phát hành đến tay các chủ thể thị trƣờng lần đầu. Nguồn vốn thu đƣợc từ thị trƣờng này trực tiếp đến tay các chủ thể phát hành để mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đƣa vào tiêu dùng cho các dịch vụ công. Chứng khoán cung ứng trên thị trƣờng cấp I đòi hỏi phải qua hàng loạt các thao tác nghiệp vụ theo các quy trình của luật pháp quốc gia nghiêm ngặt để bảo đảm tính “khả mại” và tính “thanh khoản” của chúng. Điều này chỉ có thể thực hiện đƣợc nhờ các bộ phận chức năng hoạt động về chứng khoán của nhà nƣớc nhƣ cơ quan tƣ vấn, đại lý, bảo lãnh phát hành.
Nguồn cung chứng khoán ở đây phải xuất phát từ nhu cầu về vốn của các chủ thể và phải đƣợc cân đối với phƣơng án lƣu thông vốn khác để tránh sự cản trở lẫn nhau. Về chủng loại chứng khoán thƣờng bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu các chứng chỉ của các quỹ đầu tƣ. Chứng khoán cung ứng trên thị trƣờng cấp I là tiền đề cho sự tồn tại và hoạt động trên thị trƣờng cấp II. Thị trƣờng chứng khoán cấp II chỉ làm chức năng phân phối các chứng khoán , do đó tuy trên TTCK cấp I có cả cung và cầu, song ngƣời ta vẫn gọi nó là thị trƣờng nguồn cung.
Sự điều tiết của nhà nƣớc ở thị trƣờng cần phải đƣợc thực hiện chặt chẽ để tránh rủi ro dẫn đến đổ vỡ không chỉ của TTCK mà còn đẩy nền kinh tế lâm vào khủng hoảng mà bài học lịch sử của nhiều quốc gia đã ghi nhận. Chẳng hạn “cơn sốt vàng” ở Caliphocnia ( Mỹ) năm 1884 là ví dụ điển hình. -Thị trƣờng chứng khoán thứ cấp (cấp II) là thị trƣờng phân phối lại các chứng 9 khoán do thị trƣờng cấp I phát hành theo nhu cầu về vốn của các chủ thể trong nền kinh tế. Thông qua sự biến động về giá cả của từng chủng loại chứng khoán khác nhau dƣới tác động điều tiết của các quy luật tâm lý, nguồn vốn sẽ dịch chuyển từ chủ thể đầu tƣ này sang các chủ thể đầu tƣ khác.
Nguồn vốn tuy không trực tiếp đổ vào các chủ thể phát hành, song nó tạo ra sự kích thích mạnh đối với doanh nghiệp và là một phƣơng tiện kiểm soát cả trực tiếp lẫn gián tiếp một cách có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhờ phát hành phụ thêm chứng khoán ra TTCK để tăng vốn cho doanh nghiệp. Đồng thời, trên thị trƣờng này cũng đặt các doanh nghiệp trƣớc những rủi ro bất thƣờng, thậm chí không xuất phát từ các nguyên nhân của chính doanh nghiệp, nên việc đƣa doanh nghiệp lên SGD khi và chỉ khi nội lực của doanh nghiệp đạt chuẩn do pháp luật và quy chế của UBCKNN đặt ra. -TTCK cấp I và cấp II luôn có mối quan hệ biện chứng, tạo thành một thể thống nhất của TTCK. Thứ hai, căn cứ vào phƣơng thức tổ chức hoạt động của TTCK ngƣời ta chia thành thị trƣờng tập trung và phi tập trung (OTC).
TTCK tập trung là thị trƣờng mà tại đó các chứng khoán đƣợc giao dịch, mua bán tại một địa điểm, gọi là sàn giao dịch ( trading floor) trong sở giao dịch chứng khoán ( SGDCK) hoặc thông qua hệ thống máy tính. Các chứng khoán đƣợc niêm yết tại SGDCK có đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn và đƣợc thẩm định theo các quy trình kỹ thuật- pháp lý chặt chẽ. Thông thƣờng đó là các chứng khoán của các công ty lớn có danh tiếng và đã trải qua các thử thách khắc nghiệt của sự điều tiết bởi các quy luật tâm lý- thị trƣờng, nên chúng có uy tín cao. Trên thị trƣờng tập trung, tại SGDCK, giá cả chứng khoán đƣợc hình thành thông qua quy trình đấu giá cạnh tranh và công khai hóa mọi thông tin liên quan đến hoạt động của các chủ thể phát hành, nên dễ dàng lƣờng đoán hơn sự biến động về giá cả của các chứng khoán trong tƣơng lai để đƣa ra quyết định mua , bán có độ tin cậy ít nhiều cao hơn ở thị trƣờng OTC.
Sở giao dịch là một cơ cấu thị trƣờng có tổ chức đặc biệt, là hạt nhân của TTCK tập trung, nơi tập trung, phân phối và phân phối lại các nguồn vốn đầu tƣ thông qua quá trình thiết lập và quản trị các danh mục đầu tƣ chứng khoán, do đó nó là cơ sở vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của TTCK quốc gia và là nơi sự can thiệp và điều tiết của nhà nƣớc để bình ổn TTCK đƣợc thực hiện dễ dàng hơn. Hiện nay, trên thế giới có gần 20 SGDCK danh tiếng nhƣ NewYork ( Mỹ), Tokyo ( Nhật Bản), London( Anh), Pari ( Pháp)… với nhiều SGD liên hoàn hệ thống và khống chế, chi phối 80% lƣợng chứng khoán giao dịch quốc gia nhƣ 10 SGDCK Tokyo, hoặc hơn 95% nhƣ SGDCK Milan và Pari [13, tr36]. Trong tiến trình toàn cầu hóa (TCH) nền kinh tế thế giới nhờ các thành tựu phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, ngƣơi ta có thể khớp lệnh thanh toán và lƣu ký chứng khoán trên phạm vi toàn cầu, do đó phát triển TTCK tập trung trở thành điều kiện không chỉ kích thích phát trển TTCK nội địa, mà còn là cơ sở để hội nhập TTCK quốc gia vào TTCK toàn cầu. -TTCK phi tập trung (OTC) là thị trƣờng, trong đó các giao dịch, mua bán các chứng khoán đƣợc thực hiện trực tiếp qua quầy của các ngân hàng, CTCK hay các tổ chức tƣơng tự tại bất cứ địa điểm và thời gian thuận lợi.
Giá cả chứng khoán ở đây đƣợc hình thành tự phát trên cơ sở thƣơng lƣợng và thoả thuận giữa ngƣời mua và ngƣời bán nên cùng một loại chứng khoán có giá cả khác nhau tuỳ thuộc vào khối lƣợng và thời gian giao dịch. Đây là thị trƣờng có lịch sử lâu đời nhất trong tiến trình phát triển TTCK của nhân loại. Khi công nghệ thông tin phát triển, dƣới sự lan toả của tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, giao dịch trên thị trƣờng OTC đƣợc thực hiện qua điện thoại hoặc mạng máy tính kiểu thị trƣờng NASDAQ ( Mỹ) xuất hiện từ 1971 và phát triển nhanh ở các nƣớc có TTCK phát triển hàng đầu thế giới. Nhờ thực hiện giao dịch chứng khoán qua mạng máy tính, thông qua một hệ thống các tổ chức môi giới tạo lập TTCK trung gian liên kết với nhau trải rộng khắp thế giới và đƣợc điều hành từ một trung tâm, OTC đã trở thành một thị trƣờng có tổ chức chặt chẽ ở các nƣớc tƣ bản phát triển hiện nay.