phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để phát triển thị trƣờng chứng khoán phái sinh Chƣơng 2: Thực trạng phát triển thị trƣờng chứng khoán phái sinh tại Việt Nam Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển thị trƣờng chứng khoán phái sinh tại Việt Nam 11 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG PHÁI SINH 1. Tổng quan về chứng khoán phái sinh 1. Khái niệm Về định nghĩa chứng khoán phái sinh, rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đã đƣa nhiều khái niệm khác nhau, nhƣng về cơ bản, có thể hiểu chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính dƣới dạng hợp đồng đƣợc thực hiện tại một thời điểm trong tƣơng lai và giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị của một loại tài sản cơ sở.
Theo Michael Chui (2012), tài sản đƣợc sử dụng làm tài sản cơ sở cho chứng khoán phái sinh rất đa dạng bao gồm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán, các công cụ thu nhập cố định, ngoại tệ, hàng hóa, các sự kiện tín dụng và thậm chí các chứng khoán phái sinh khác. Tùy thuộc vào loại cơ sở, giá trị của hợp đồng phái sinh có thể đƣợc dựa trên giá của chứng khoán, chỉ số chứng khoán, lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hoá và xác suất của các sự kiện tín dụng tƣơng ứng. Whaley (2006) và John C. Hull (1988) nhận định chứng khoán phái sinh là một thỏa thuận hợp đồng đƣợc thực hiện vào một ngày trong tƣơng lai và giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị của một loại tài sản cơ sở.
Nhƣ vậy, tóm lại, chứng khoán phái sinh là một công cụ tài chính dƣới dạng hợp đồng, trong đó xác nhận quyền, nghĩa vụ của các bên đối với việc thanh toán tiền, chuyển giao số lƣợng tài sản cơ sở nhất định theo mức giá đã đƣợc xác định trong khoảng thời gian hoặc vào ngày đã xác định trong tƣơng lai. Các loại tài sản đƣợc sử dụng làm tài sản cơ sở cho chứng khoán phái sinh rất đa dạng, có thể là các hàng hóa hữu hình nhƣ thực phẩm, nông sản, kim loại hay các chỉ số tài chính tiền tệ nhƣ lãi suất, tỷ giá hoặc các chứng khoán, các chỉ số chứng khoán. Thời điểm đáo hạn các sản phẩm phái sinh thƣờng diễn ra tại một thời điểm đƣợc ấn định trong tƣơng lai với sự cam kết của các bên tham gia. Một số sản phẩm phái sinh cho phép các bên tham gia chấm dứt hợp đồng trƣớc thời điểm đến hạn.
Đặc điểm của chứng khoán phái sinh Thực tế, các CKPS khác nhau có những đặc điểm riêng, phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản cơ sở và đặc thù của hợp đồng phái sinh tài chính. Dù vậy, về cơ bản chứng khoán phái sinh có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, mỗi loại CKPS sẽ đƣợc thành lập dựa trên tối thiểu một loại tài sản cơ sở, trong đó giá trị của nó gắn liền với giá trị của tài sản cơ sở. Nội dung và hình thức của các CKPS có thể khác nhau nhƣng các chứng khoán này đều có chung đặc điểm là phải xuất phát từ tài sản gốc gọi là tài sản cơ sở, gồm cả tài sản tài chính và phi tài chính đƣợc lấy làm “gốc” cho chứng khoán phái sinh. Giá trị của chứng khoán phái sinh có thể đƣợc xác định từ tài sản cơ sở và tƣơng ứng với giá trị thực tế của các tài sản cơ sở biến động mà các chứng khoán phái sinh cũng biến động giá trị.
Thứ hai, CKPS không xác nhận quyền sở hữu với tài sản cơ sở mà chỉ là sự cam kết về quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên tham gia hợp đồng mua, bán tài sản cơ sở. Ngƣời nắm giữ chứng khoán phái sinh tuy không trực tiếp nắm giữ tài sản cơ sở và chƣa xác nhận quyền sở hữu với tài sản gốc nhƣng là ngƣời có thể dễ dàng chuyển hóa chứng khoán phái sinh thành các tài sản cơ sở khi tới hạn hoặc có khả năng sở hữu tài sản cơ sở trong tƣơng lai. Với một số sản phẩm phái sinh, quyền lợi và nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đƣợc thực hiện theo phƣơng thức thanh toán bằng tiền, không có trao đổi hàng hóa thực tế. Thứ ba, CKPS đƣợc xem là công cụ gắn liền với đòn bẩy tài chính thông qua việc sử dụng công cụ ký quỹ.
Ký quỹ trong giao dịch chứng khoán phái sinh đƣợc xem là tài sản đặt cọc ban đầu để đảm bảo thanh toán. Ký quỹ trong giao dịch chứng khoán phái sinh không phải khoản vay giữa nhà đầu tƣ và công ty chứng khoán (CTCK), do đó NĐT sẽ không phải trả bất kỳ chi phí lãi vay nào. Điều này mang lại cho các NĐT mức lãi tiềm năng cao hơn rất nhiều so với đầu tƣ vào các loại chứng khoán thông thƣờng vì chỉ cần bỏ ra một khoản tiền cọc với tỷ lệ nhất định để giao dịch các hợp đồng có giá trị lớn gấp nhiều lần. Tuy nhiên, đòn bẩy tài 13 chính cũng là con dao hai lƣỡi khi NĐT dự báo sai về sự thay đổi của giá tài sản cơ sở hoặc giá HĐTL biến động theo chiều hƣớng bất lợi, thua lỗ sẽ xảy ra.
Phân loại chứng khoán phái sinh Cùng với sự phát triển của thị trƣờng tài chính, CKPS ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, đáp ứng đƣợc đa dạng nhu cầu của chủ thể tham gia thị trƣờng. CKPS có thể phân loại theo ba tiêu chí khá phổ biến gồm: phƣơng thức giao dịch của sản phẩm (CKPS niêm yết, CKPS OTC), loại tài sản cơ sở (CKPS hàng hóa, CKPS dựa trên các công cụ thị trƣờng tiền tệ, CKPS dựa trên các công cụ thị trƣờng vốn, CKPS dựa trên CKPS) và tính chất của hợp đồng (Đào Lê Minh 2016, tr. Trong nội dung bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân loại CKPS theo các sản phẩm giao dịch trên thị trƣờng dựa trên tính chất của hợp đồng, cụ thể là hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng tƣơng lai (Future), hợp đồng quyền chọn (Option) và hợp đồng hoán đổi (Swap). Hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận pháp lý giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một loại tài sản tại một thời điểm nhất định trong tƣơng lai với mức giá đƣợc xác định trƣớc tại ngày thực hiện giao dịch.
Hợp đồng kỳ hạn có giá trị pháp lý ràng buộc giữa hai bên mua và bán; đến kỳ hạn thực hiện (ngày đáo hạn hợp đồng), ngƣời có hợp đồng mua có quyền và nghĩa vụ phải mua, ngƣời có hợp đồng bán có quyền và nghĩa vụ bán tài sản cơ sở. Hợp đồng tương lai Hợp đồng tƣơng lai (HĐTL) là một dạng hợp đồng kỳ hạn đã đƣợc chuẩn hóa, niêm yết và giao dịch tại thị trƣờng tập trung do SGDCK xây dựng mẫu hợp đồng sau đó niêm yết và tổ chức giao dịch tập trung tại SGDCK, đƣợc thỏa thuận mua bán thông qua ngƣời môi giới (là thành viên giao dịch trên TTCKPS). Hàng ngày Tổ chức bù trừ chứng khoán phái sinh sẽ thực hiện đánh giá lại theo giá thị trƣờng (mark to market) đối với các vị thế CKPS và xác định lỗ/lãi vị thế cho danh mục vị thế ròng của NĐT. Các khoản lãi/lỗ vị thế từ giao dịch của 14 NĐT và từ hoạt động “mark to market” sẽ đƣợc thanh toán vào ngày làm việc liền kể sau đó và đƣợc ghi nhận tăng, giảm vào giá trị ký quỹ của NĐT.
Trong trƣờng hợp lỗ vị thế dẫn tới số dƣ kỹ quỹ giảm xuống thấp hơn mức ký quỹ duy trì, NĐT phải bổ sung tài sản ký quỹ (tiền mặt hoặc chứng khoán thuộc danh sách chấp nhận làm tài sản ký quỹ) của Tổ chức bù trừ thanh toán CKPS để tăng giá trị tài sản ký quỹ về mức không thấp hơn mức ký quỹ ban đầu. Trong trƣờng hợp giá trị ký quỹ của NĐT cao hơn mức ký quỹ duy trì theo quy định, NĐT có thể rút bớt một phần tài sản ký quỹ. Hợp đồng quyền chọn Hợp đồng quyền chọn (HĐQC) là một công cụ tài chính cho phép ngƣời mua quyền có quyền, nhƣng không bắt buộc, đƣợc mua hay bán một tài sản cơ sở với mức giá đã đƣợc ấn định vào trƣớc vào một ngày đã xác định trong tƣơng lai. Các yếu tố cấu thành HĐQC: Ngƣời mua quyền (holder), ngƣời bán quyền (writer), tài sản cơ sở (underlying asset), giá thực hiện (strike or exercise price), ngày đáo hạn (expiration date), phí mua quyền (premium).
Đặc điểm của HĐQC: (i) Là một công cụ tài chính duy nhất cho phép ngƣời mua nó có quyền chứ không phải có nghĩa vụ; (ii) Ngƣời bán HĐQC có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng nếu ngƣời mua nó yêu cầu; (iii) HĐQC là một tài sản tài chính nên nó có giá trị; (iv) Giá cả trên thị trƣờng của tài sản cơ sở là căn cứ để xác định giá trị của HĐQC. Kiểu quyền chọn: Kiểu giao dịch do hai bên thỏa thuận cho phép ngƣời mua đƣợc lựa chọn thời điểm thực hiện quyền chọn. HĐQC có thể thực hiện theo hai kiểu: - Hợp đồng kiểu Mỹ (American style): Ngƣời mua HĐQC có quyền thực hiện hợp đồng vào bất kỳ thời điểm nào trƣớc khi hợp đồng hết hạn. - Hợp đồng kiểu Châu Âu (European style): Ngƣời mua HĐQC chỉ đƣợc thực hiện hợp đồng vào thời điểm hợp đồng hết hạn.
Hợp đồng hoán đổi Hợp đồng hoán đổi là một thỏa thuận pháp lý trong đó hai bên cam kết hoán đổi dòng tiền của một công cụ tài chính của một bên với dòng tiền của công cụ tài chính của bên còn lại trong một khoảng thời gian nhất định. Giao dịch trên thị trƣờng OTC, đa dạng về chủng loại, phổ biến nhất là hợp đồng hoán đổi lãi suất Vanilla Đơn giản (Plain-Vanilla) hay còn gọi là hợp đồng hoán đổi lãi suất thả nổi-cố định. Hợp đồng hoán đổi lãi suất thƣờng đƣợc các ngân hàng và các doanh nghiệp áp dụng. Theo đó, các doanh nghiệp đồng ý trả một luồng tiền bằng mức lãi suất cố định đƣợc định trƣớc trên một mức vốn danh nghĩa trong một số năm.
Để đổi lại, các ngân hàng sẽ trả mức lãi suất thả nổi trên cùng mức vốn danh nghĩa cho cùng thời kỳ. Các doanh nghiệp sử dụng hợp đồng hoán đổi lãi suất để tránh rủi ro về lãi suất và để tái cơ cấu tài sản nợ, có. Tổng quan về phát triển thị trƣờng chứng khoán phái sinh 1.