đặt vấn đề nghiên cứu phát triển TTBH PNT Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT). Luận án tiến sĩ “Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam” (2011) của tác giả Trịnh Xuân Dung - Đại học kinh tế quốc dân Với những khái quát về nội dung của luận án đã nêu ở phần 2.1, các vấn đề chƣa đƣợc luận án nghiên cứu là: Phạm vi nghiên cứu của luận án là không nghiên cứu TTBH PNT Việt Nam trong điều kiện hội nhập. Phần lý luận của luận án chƣa đề cập đến nội dung phát triển TTBH PNT cũng nhƣ sự cần thiết khách quan phải phát triển TTBH PNT. Phần thực trạng cũng nhƣ giải pháp của luận án chủ yếu tập trung vào các 7 DNBH, chƣa đề cập hoạt động tái BH cũng nhƣ hoạt động môi giới BH đây là hai hoạt động quan trọng không thể thiếu của sự phát triển TTBH PNT.
Những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu giải quyết - Về cơ sở lý luận Trong phần khái quát về TTBH PNT, luận án nghiên cứu cấu thành của TTBH PNT và nhấn mạnh vị trí vài trò của TTBH PNT trong nền kinh tế (KT) hội nhập. Với quan điểm muốn nghiên cứu một vấn đề trong điều kiện hội nhập KTQT cần phải hiểu nó một cách tổng quát, đồng thời phải tổng hợp phân tích cụ thể các vấn đề cơ bản có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu. Vì vậy luận án sẽ có một phần tổng quan về hội nhập KTQT. Trọng tâm nghiên cứu của luận án là: Quan điểm, nguyên tắc và nội dung, phát triển TTBH PNT trong điều kiện hội nhập, đồng thời luận án cũng sẽ nghiên cứu những tác động của hội nhập KTQT đối với TTBH các nƣớc đang phát triển và kém phát triển.
Tiếp theo đó là tính tất yếu khách quan phải phát triển TTBH PNT trong nền KT hội nhập. Đồng thời xác định một số yếu tố cơ bản ảnh hƣởng đến sự phát triển TTBH PNT và những cơ hội và thách thức của TTBH PNT trong quá trình hội nhập. Những lý luận trên có liên quan trực tiếp và quan hệ biện chứng với sự phát triển TTBH PNT trong nền KT hội nhập. Đó là những cơ sở quan trọng, là tiền đề cho việc nghiên cứu các phần tiếp theo của luận án.
- Về thực tiễn Luận án sẽ tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về TTBH PNT Việt Nam trong quá trình hội nhập KTQT. Đồng thời khảo sát quá trình hội nhập và phát triển TTBH PNT của một số nƣớc và rút ra kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam. Đánh giá về TTBH không chỉ đơn thuần là đánh giá các hoạt động kinh doanh của các DNBH PNT mà còn đề cập đến các DN tái BH, hoạt động trung gian BH. Vì đề tài là nghiên cứu trong điều kiện hội nhập nên phần này không chỉ đánh giá các hoạt động của DN ở thị trƣờng trong nƣớc mà còn ở nƣớc ngoài.
Sự tham gia của các DNBH có vốn nƣớc ngoài đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến sự phát triển của TTBH PNT Việt Nam. Hơn thế nữa luận án còn giành riêng một phần đánh giá, phân tích về hệ thống pháp luật, các chính sách của nhà nƣớc về vấn đề mở cửa hội nhập, các yếu tố khác về môi trƣờng KDBH cũng nhƣ những tác động của nó đến quá trình phát triển và hội nhập của TTBH PNT Việt Nam. 8 Để có những cơ sở thực tiễn xác thực phục vụ cho mục đích nghiên cứu, luận án sẽ không đi liệt kê toàn bộ những kết quả mà TTBH PNT đã đạt đƣợc, mà tập trung phân tích đánh giá những vấn đề có liên quan trực tiếp, hay có ảnh hƣởng đến quá trình hội nhập của TTBH PNT. Đồng thời nghiên cứu, phát hiện những vấn đề mới phát sinh trong quá trình hội nhập.
Tất nhiên, luận án cũng sẽ xem xét, đánh giá đầy đủ các hoạt động của thị trƣờng nhƣ: KDBH, tái BH, trung gian BH và hoạt động đầu tƣ vốn nhàn rỗi vào nền KT. Đồng thời cũng đề cập đến các quan hệ quốc tế trong lĩnh vực BH của Việt Nam, cũng nhƣ đánh giá cả hoạt động của các DNBH có vốn nƣớc ngoài tại Việt Nam. Bên cạnh đó luận án cũng sẽ chỉ ra những tồn tại hạn chế và một số nguyên nhân chính dẫn đến những tồn tại đó của TTBH PNT Việt Nam. - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp phát triển TTBH phi nhân thọ Việt Nam Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, luận án sẽ đƣa ra những định hƣớng, những giải pháp để phát triển TTBH PNT Việt Nam trong thời gian tới.
Để xây dựng và phát triển TTBH PNT Việt Nam một cách toàn diện đồng bộ và bền vững, cần phải có sự tham gia phối hợp chặt chẽ của cả nhà nƣớc, ngành BH và các các thành viên tham gia TTBH PNT. Vì vậy, các giải pháp cũng phải toàn diện, đồng bộ cho tất cả các đối tƣợng trên và cũng cần phải phân định rõ các giải pháp riêng cho từng đối tƣợng đó. Với quan điểm nhƣ vậy, luận án sẽ đƣa ra 3 nhóm giải pháp đó là: (1) Hoàn thiện hệ thống pháp luật và quản lý nhà nƣớc về KDBH; (2) Đổi mới và cải thiện môi trƣờng kinh doanh; (3) Giải pháp cho các thành viên tham gia TTBH PNT. Tóm lại: Luận án sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề mà các công trình khác chƣa đề cập đến đó là nghiên cứu toàn diện, đồng bộ TTBH PNT Việt Nam và luôn đặt nó trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TRONG NỀN KINH TẾ TRÌNH HỘI NHẬP 1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Khái niệm bảo hiểm phi nhân thọ và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ a) Khái niệm bảo hiểm phi nhân thọ Hiện nay có rất nhiều khái niệm về BH nói chung, tuy nhiên rất ít tài liệu đƣa ra khái niệm về BH PNT. Sau đây là một số quan niệm về BH PNT: - Theo giáo trình Bảo hiểm phi nhân thọ của Học viện Tài Chính (2010) do TS Đoàn Minh Phụng chủ biên: “Bảo hiểm phi nhân thọ vẫn được sử dụng như một khái niệm tổng hợp ma nghĩa hàm chứa tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại (bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm) và các nghiệp vụ bảo hiểm con người không thuộc bảo hiểm nhân thọ (bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm bệnh tật, ốm đau.
- Tại Khoản 18 - Điều 3 - Chƣơng I - Luật Kinh doanh bảo hiểm (2000) của Việt Nam có giải thích: “Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ”. Qua tìm hiểu nghiên cứu về BH PNT, tác giả đƣa ra khái niệm sau: “BH PNT là một hình thức mà qua đó một bên nhận BH cho các tài sản, trách nhiệm dân sự và các loại BH con người không thuộc BH nhân thọ thông qua việc thu một khoản phí BH và cam kết sẽ thanh toán cho bên mua BH một khoản tiền nếu có sự kiện BH xảy ra gây tổn thất về tài chính cho bên mua BH trong thời hạn bảo hiểm nhất định”. Đối tƣợng của BH PNT bao gồm con ngƣời, các loại tài sản, trách nhiệm phát sinh trong quá trình sống và làm việc, trong khi đó đối tƣợng của BH nhân thọ chỉ là con ngƣời. BH con ngƣời PNT nhằm BH tính mạng sức khỏe cho con ngƣời, trong khi BH nhân thọ còn liên quan đến cả tuổi thọ của con ngƣời.
BH PNT không có tính chất tiết kiệm, còn BH nhân thọ vừa mang tính chất BH lại vừa mang tính chất tiết kiệm (đƣợc hoàn trả lại tiền gốc đã nộp và một số lãi theo cam kết trong hợp đồng BH). b) Khái niệm thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Hiện nay, có một số quan điểm về TTBH. Tuy nhiên chƣa có một khái niệm riêng cho TTBH PNT. Trong giáo trình quản trị KDBH (2003), Đại học Kinh tế quốc dân do TS Nguyễn Văn Định chủ biên có khái niệm: “Theo thuật ngữ bảo hiểm, thị trường bảo hiểm là nơi mua và bán các sản phẩm bảo hiểm.
Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt; là loại sản phẩm vô hình không thể cảm nhận được 10 hình dáng, kích thước, màu sắc. Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền, là sản phẩm mà người mua không mong đợi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với mình để được bồi thường hay trả tiền bảo hiểm (trừ BH hưu trí, BH nhân thọ)”. Qua nghiên cứu về TTBH PNT tác giả đƣa ra khái niệm: Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là nơi mua và bán các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ. Đó chính là sự gặp gỡ giữa cung và cầu của sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ.
Sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ không tồn tại hữu hình, không có hình dáng, kích thước, trọng lượng do đó nó là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ không nhất thiết phải là một địa điểm cụ thể. TTBH thế giới đƣợc hiểu là hoạt động giao dịch trao đổi các sản phẩm BH, trao đổi thông tin về các dịch vụ BH, tái BH giữa các nƣớc. Có thể phân loại TTBH thế giới theo những tiêu thức khác nhau.
Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia giao dịch sẽ có TTBH gốc (ngƣời bán và ngƣời mua) và thị trƣờng tái BH (Các DNBH tái BH với nhau hoặc với DN tái BH). Nếu căn cứ vào không gian địa lý sẽ có TTBH toàn thế giới, TTBH khu vực (vd: Châu Á-Thái Bình Dƣơng, Châu Âu) và TTBH trong các tổ chức, các khối liên minh (ví dụ: EU, ASEAN. Nếu căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh có TTBH nhân thọ và TTBH PNT. Nếu căn cứ vào đối tƣợng BH PNT sẽ có TTBH tài sản, TTBH hàng không, TTBH xe cơ giới, TTBH tai nạn và chăm sóc sức khỏe… 1.
Cấu thành của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ a) Người tổ chức thị trường bảo hiểm phi nhân thọ: Nhà nƣớc là ngƣời tổ chức thị trƣờng đồng thời tạo ra hành lang pháp lý môi trƣờng kinh doanh và thực hiện quản lý nhà nƣớc về KDBH, cụ thể: - Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý và thực hiện quản lý nhà nước về KDBH: Ban hành hệ thống chính sách pháp luật KDBH. Xây dựng chiến lƣợc và qui hoạch phát triển TTBH. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các tổ chức KDBH.