CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. Tổng quan về thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán vừa là khâu mở ñầu vừa là khâu kết thúc của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa [Wikipede, truy cập : 15/3/2011]. Chính vì vậy ñể hoà chung với nhịp ñộ tăng trưởng không ngừng của sản xuất và lưu thông hàng hóa thì các phương tiện thanh toán cũng phải không ngừng ñược ñổi mới và hiện ñại. Nền kinh tế phát triển, có nhiều thành phần kinh tế tham gia thanh toán bằng tiền mặt, không ñảm bảo tính an toàn cho người trả tiền và người nhận tiền, tiếp ñó là chi phí in ấn, vận chuyển rất lớn.
Vấn ñề quan trọng nữa là khoảng cách giữa người bán và người mua nhiều khi rất xa nhau. Do ñó thanh toán bằng tiền mặt ñã không thể ñáp ứng ñược yêu cầu. Từ thực tế khách quan ñó, phương thức TTKDTM ñược hình thành, nó khắc phục những hạn chế của thanh toán bằng tiền mặt ñồng thời có vai trò quan trọng thúc ñẩy sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa của nền kinh tế. Thanh toán bằng tiền mặt tạo khẽ hở cho các ñơn vị bán không chấp hành chế ñộ hóa ñơn chứng từ, dễ trốn thuế, làm giảm thu NSNN.
Khó kiểm soát về mục ñích, ñối tượng các khoản chi. Thanh toán không dùng tiền mặt là thanh toán trực tiếp ñến ñối tượng cung cấp hàng hóa, dịch vụ, chi theo tiến ñộ thực hiện công việc của ñơn vị. Tồn quỹ của ngân sách các cấp không bị phân tán vào tồn quỹ của ñơn vị, tồn ngân Kho bạc Ưuốc gia giảm hợp lý luôn ñảm bảo khả năng thanh toán chi trả. Thanh toán bằng tiền mặt có tốc ñộ không cao vì TTBTM luôn có sự xuất hiện của tiền mặt nên thanh toán giữa bên mua và bên bán phải có sự vận chuyển, kiểm ñếm, bảo quản tiền mặt… do ñó dễ dẫn ñến mất mát và nhầm lẫn.
Hơn nữa, TTBTM làm cho vốn bị ứ ñọng và chi phí lưu thông tiền tệ tăng. 6 Do tính chất của công việc trao ñổi, thanh toán bằng tiền mặt có nhiều nhược ñiểm nên TTKDTM ra ñời, một mặt khắc phục ñược những nhược ñiểm trên, mặt khác thúc ñẩy lưu thông, trao ñổi hàng hóa phát triển. Do tính ưu việt như vậy nên hình thức TTKDTM không ngừng hoàn thiện và ngày càng phát triển, không thể thiếu ñược trong nền kinh tế thị trường. Thanh toán không dùng tiền mặt ra ñời là một tất yếu khách quan.
Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt [Wikipede, truy cập 20/12/2009] Thanh toán ñơn giản là thuật ngữ ngắn gọn mô tả việc chuyển giao các phương tiện tài chính từ một bên sang một bên khác. Tiền là phương tiện thực hiện trao ñổi hàng hóa, ñồng thời là việc kết thúc quá trình trao ñổi. Lúc này tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh toán. Sự vận ñộng của tiền tệ có thể tách rời hay ñộc lập tương ñối với sự vận ñộng của hàng hóa.
Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền không chỉ sử dụng ñể trả các khoản nợ về mua chịu hàng hóa, mà chúng còn ñược sử dụng ñể thanh toán những khoản nợ vượt ra ngoài phạm vi trao ñổi như nộp thuế, trả lương, ñóng góp các khoản chi dịch vụ… Lưu thông không dùng tiền mặt là các quá trình tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không trực tiếp bằng tiền mặt mà thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản ở Ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc bù trừ lẫn nhau giữa những người phải thanh toán và những người thụ hưởng. Thanh toán không dùng tiền mặt chỉ ñược phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường và ñược áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế tài chính ñối nội cũng như ñối ngoại. Sự phát triển rộng khắp của TTKDTM hiện nay là do yêu cầu phát triển vượt bậc của nền kinh tế hàng hóa. Kinh tế hàng hóa phát triển càng cao, khối lượng hàng hóa trao ñổi trong nước và ngoài nước càng lớn thì cần có những cách thức trả tiền thuận tiện, an toàn và tiết kiệm.
7 Xét về mặt lý luận, TTKDTM là một hình thức vận ñộng của tiền tệ. Ở ñây, tiền vừa là công cụ kế toán, vừa là công cụ ñể chuyển hóa hình thức giá trị của hàng hóa và dịch vụ. Mặt khác, TTKDTM là nghiệp vụ có qúa trình chứa ñựng những công nghệ tinh vi và phức tạp. Khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán có thể sử dụng tiền ñủ giá (vàng) hoặc dấu hiệu giá trị.
Thanh toán không dùng tiền mặt là việc thanh toán không sử dụng ñến tiền mặt mà dùng hình thức trích chuyển vốn trên tài khoản từ tài khoản của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng, hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của tổ chức thanh toán. Các chủ thể tham gia hệ thống thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Hệ thống thanh toán trong nền kinh tế hiện nay gồm nhiều chủ thể tham gia thanh toán như : NHNN, NHTM, KBNN, các TCTD khác; với sự tham gia của những tập hợp khách hàng rộng lớn, ña dạng, phong phú có quan hệ với các TCTD, Ngân hàng như : cá nhân, tập thể, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, tổ chức liên doanh, công ty ñầu tư 100% vốn nước ngoài… Nghĩa là, tính phức tạp trong hoạt ñộng thanh toán qua NH ñã tăng lên gấp bội so với trước ñây. Các mối quan hệ ñan xen trong thanh toán, ngày một phát triển.
Thực tế không phải chỉ một trung tâm thanh toán duy nhất như trước ñây (thời kỳ NH một cấp); mà mỗi TCTD, NH ñều là một trung tâm thanh toán riêng biệt. Tuy nhiên giữa chúng lại có trung tâm thanh toán chung, liên kết với nhau ñể thực hiện việc thanh toán riêng lẻ từng hệ thống thanh toán không thể xử lý ñược. Chẳng hạn như thanh toán liên NH do NHNN chủ trì, hoặc do một NH ñược thỏa thuận chỉ ñịnh ñứng ra chủ trì, tổ chức thanh toán cho cả hệ thống tham gia thanh toán. Cho dù là trung tâm thanh toán riêng lẻ, hay là trung tâm thanh toán chung, ñều phải thấy hết vai trò cực kỳ quan trọng của việc tổ chức thanh toán trong nền kinh tế nói chung hay thanh toán không dùng tiền mặt qua NH và TTBTM nói riêng.
Ví như, sự lưu thông hàng hóa và tiền tệ của nền kinh tế, nó giống như mạch máu của con người, nếu bị ngừng ñọng ở ñâu ñó, sẽ gây hậu quả nghiêm trọng khó lường. 8 Trong giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt có các bên tham gia vào quá trình thanh toán, ñó là các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, các ñơn vị trả tiền và các ñơn vị nhận tiền thanh toán. Các chủ thể tham gia vào quá trình thanh toán với mục tiêu và lợi ích khác nhau, có thể ñược phân ra như sau : - Ngân hàng Trung ương quản lý toàn bộ hoạt ñộng thanh toán trong nền kinh tế, trực tiếp tổ chức, sở hữu hệ thống thanh toán liên ngân hàng, cung cấp dịch vụ thanh toán cho các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, những tổ chức tài chính và những doanh nghiệp lớn. - Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là chủ sở hữu hệ thống thanh toán nội bộ, trực tiếp cung cấp các dịch vụ và các phương tiện thanh toán ña dạng, phong phú cho các tổ chức, doanh nghiệp và dân cư trong nền kinh tế.
- Kho bạc Quốc gia là một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong khu vực công. - Các tổ chức, doanh nghiệp, và dân cư trực tiếp sử dụng dịch vụ thanh toán. Các chủ thể tham gia hệ thống thanh toán của nền kinh tế thị trường rất phong phú và ña dạng gắn liền với tính ña dạng của các dịch vụ thanh toán ñòi hỏi cơ sở pháp lý cho hoạt ñộng thanh toán phải ñược hoàn thiện theo hướng hoàn chỉnh ñầy ñủ các hành vi của các chủ thể tham gia vào quá trình thanh toán. Tổng quan về hệ thống thanh toán Thanh toán là một cầu nối giữa sản xuất – phân phối, lưu thông và tiêu dùng, ñồng thời là khâu mở ñầu và kết thúc của quá trình tái sản xuất xã hội.
Hay nói cách khác, thanh toán là quá trình chu chuyển tiền tệ phục vụ cho chu chuyển kinh tế [Wikipede, truy cập 01/01/2010]. Trên thực tế hiện nay, không ít người chưa hiểu một cách ñầy ñủ, chuẩn mực về hệ thống thanh toán, thậm chí hiểu sai cũng là một chuyện thường tình vì ñây là một lĩnh vực khoa học, công nghệ cao, phải học mới hiểu ñược. Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, ñơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất. Như vậy, một 9 hệ thống thanh toán phải ñược cấu thành bởi sự tập hợp của nhiều yếu tố, ñơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng của quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm một thể thống nhất về thanh toán.
Quan hệ thanh toán với các tổ chức tài chính, tiền tệ, Ngân hàng trong khu vực và trên thế giới ñang phát triển khá nhanh chóng xu thế hội nhập, không bị giới hạn về biên giới của mỗi quốc gia. Hệ thống thanh toán ñược xác ñịnh không chỉ theo các kênh thanh toán riêng lẻ của từng hệ thống như là thanh toán giữa khách hàng với TCTD, Ngân hàng; thanh toán trong nội bộ hệ thống TCTD, Ngân hàng; thanh toán nội bộ Kho bạc, mà còn các kênh mang tính ‘’liên hiệp’’ của các hệ thống như là trung tâm thanh toán liên NH, thanh toán liên Kho bạc và thanh toán giữa Ngân hàng và Kho bạc. Từng hệ thống thanh toán, ñã phức tạp bởi những ñối tác tham gia thanh toán ña dạng, phong phú; “liên hiệp” các hệ thống thanh toán mang tính sở hữu khác nhau, với những khoản mẫu không ñồng nhất lại càng phức tạp hơn. Do ñó, khi thiết kế từng trung tâm thanh toán, cũng như liên hiệp giữa các trung tâm thanh toán ñã không còn hàm nghĩa áp ñặt, gò ép ñược theo kiểu của Ngân hàng một cấp trước ñây; mà phải theo hướng “mở” kết nối, liên minh, thỏa thuận giữa các chủ thể tham gia thanh toán với nhau.
ðặc biệt quan trọng về thiết kế cơ chế với thiết kế kỹ thuật phải “ăn ý”. Phương hướng hiện ñại hóa hệ thống thanh toán liên Ngân hàng, liên Kho bạc ñang xây dựng hiện nay, ñòi hỏi cơ chế thanh toán mới phải thể hiện ñược ñiều ñó.