CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu 1.Những nghiên cứu ở nước ngoài Giai đoạn tiền tiểu học, đặc biệt là độ tuổi mẫu giáo, là thời kỳ xúc cảm dạt dào, trí tò mò và tưởng tượng phong phú, khả năng liên tưởng mạnh mẽ. Đây chính là thời điểm vàng, cơ hội lý tưởng để nuôi dưỡng tiềm năng sáng tạo.
Trò chơi, vì thế, đóng vai trò then chốt trong việc bồi đắp năng lực sáng tạo nơi trẻ thơ. Khái niệm sáng tạo thường gắn liền với những tên tuổi kiệt xuất trong các lĩnh vực nghệ thuật và khoa học, tiêu biểu như Albert Einstein, Lev Nikolayevich Tolstoy, Isaac Newton, hay Leonardo da Vinci. Tuy nhiên, việc tiếp cận vấn đề sáng tạo lại thường bị giới hạn trong phạm vi chuyên môn hẹp. Chẳng hạn, các nhà sử học khoa học kỹ thuật thường bỏ qua yếu tố tâm lý, trong khi các nhà tâm lý học lại tập trung vào cá nhân các nhà sáng chế xuất sắc mà ít quan tâm đến quy luật khách quan của tiến trình khoa học kỹ thuật.
Từ giữa thế kỷ XIX, một số nhà xã hội học đã khẳng định hoạt động tưởng tượng là nền tảng của sáng tạo tích cực, một quan điểm khá gần gũi với các nghiên cứu tâm lý học hiện đại. Bước sang thế kỷ XX, với những đột phá khoa học kỹ thuật và những thành tựu rực rỡ, nhu cầu nghiên cứu quá trình sáng tạo dưới góc độ tâm lý và trí tuệ ngày càng cấp thiết. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật tỷ lệ thuận với sự chú trọng vào nghiên cứu sáng tạo. Hoa Kỳ, một cường quốc khoa học kỹ thuật hàng đầu thế giới thời bấy giờ, là minh chứng rõ nét.
Những công trình nghiên cứu của Lewis Terman về học sinh tài năng đã nhận được sự đánh giá cao, mở ra những nghiên cứu sâu rộng hơn về các yếu tố cấu thành sáng tạo, bao gồm môi trường, nhân cách và sản phẩm. Khái niệm sáng tạo đã được nghiên cứu chuyên sâu từ thập niên 1950, khởi nguồn từ nhận định của Giáo sư J. Guilford, nguyên là chủ tịch Hội Tâm 5 lý học Hoa Kỳ kiêm giáo sư tại một trường đại học Nam California. Ông đã chỉ rõ sự thiếu quan tâm kéo dài, rồi sự chú ý đột ngột dành cho hiện tượng này.
Vì tầm quan trọng ấy, việc vun đắp nhân cách sáng tạo trở nên cấp thiết. Sáng tạo không chỉ thúc đẩy tiến bộ khoa học mà còn ảnh hưởng toàn diện đến xã hội. Một quốc gia nhận diện, bồi dưỡng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân tài sáng tạo sẽ đạt được lợi thế vượt trội. Nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo đã được công bố, tiêu biểu như các tác phẩm của May (1961), Mackinon (1962), Yamanoto (1963) và nhiều học giả Hoa Kỳ khác như Barron, Blom, Helmholtz.
Kể từ thập niên 1960 - 1970, không chỉ tại Hoa Kỳ và Liên Xô mà còn ở Tây Âu, nhất là nước Đức, nhận thức về tầm quan trọng của tư duy sáng tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và cá nhân đã thúc đẩy các nghiên cứu chuyên sâu về sáng tạo trong tâm lý học, giáo dục học và xã hội học, đặc biệt là tâm lý học phát triển và tâm lý học nhân cách. Mặc dù tiềm năng sáng tạo vốn dĩ hiện hữu trong mỗi trẻ thơ, song bản chất sáng tạo ở trẻ em lại khác biệt hoàn toàn so với người lớn. Ở người trưởng thành, sáng tạo biểu hiện qua việc tạo ra những sản phẩm mới mẻ, độc đáo, mang tính chủ đích, bền vững và thường là kết quả của quá trình tìm tòi, nghiên cứu, nhằm tạo ra những giá trị thiết thực cho xã hội. Ngược lại, sáng tạo ở trẻ em thường bắt nguồn từ sự bắt chước, mô phỏng, thiếu tính chủ đích và phụ thuộc nhiều vào cảm xúc, hoàn cảnh, do đó tính bền vững kém hơn.
Nhà tâm lý học L. Vygotsky [16] cho rằng, sự xuất hiện ý định chơi và tìm kiếm phương tiện thực hiện ý định đó chính là biểu hiện của tính sáng tạo trong hoạt động chơi của trẻ. Tuy nhiên, việc vận dụng khái niệm "sáng tạo" vào hoạt động chơi của trẻ em cần được xem xét kỹ lưỡng. Nếu so sánh với sáng tạo ở người lớn, thuật ngữ này dường như không phù hợp.
Song, xét dưới góc độ phát triển tâm lý trẻ em, thuật ngữ này vẫn có thể được chấp nhận. Vygotsky chỉ rõ rằng, sự hình thành dự định và ý muốn thực hiện dự định đó đánh dấu bước chuyển sang hoạt động sáng tạo ở trẻ, đồng thời gắn liền với sự 6 phát triển trí tưởng tượng. Năm 1926, nhà tâm lý Goodenough đã cho ra bản trắc nghiệm đầu tiên, đánh giá một cách có hệ thống hình vẽ của trẻ em bằng phương pháp chấm điểm. Sau này được Harris chỉnh lí và mở rộng gọi là Test Goodenough – Harris (1963).
Các nhà tâm lý Buck, Koppitz cũng dựa vào hình vẽ người để xác định chỉ số IQ của trẻ 5-11 tuổi. Trung tuần thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu Guilford và Torrance đã tiên phong trong việc xây dựng hệ thống đánh giá tiềm năng sáng tạo ở trẻ em, bao gồm cả khả năng sáng tạo ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và tạo hình. Thành tựu này đã tạo nền tảng vững chắc cho vô số nghiên cứu về sáng tạo sau này. Năm 1994, cộng đồng học thuật được làm phong phú thêm bởi sự ra đời của bài kiểm tra sáng tạo TSD-Z, tác phẩm của nhà nghiên cứu người Đức Klaus K.
Đây là một công cụ phi ngôn ngữ (dựa trên hình vẽ), đánh giá cấu trúc tư duy sáng tạo, phù hợp với mọi lứa tuổi. Khái niệm sáng tạo ở trẻ thơ không nhất thiết phải là sự hình thành một sản phẩm hoàn toàn mới mẻ. Đơn giản hơn, khát vọng chơi đùa, ý định chơi và nỗ lực tìm kiếm phương thức chơi đã phản ánh bản chất sáng tạo. Do đó, ở trẻ nhỏ, tiềm năng sáng tạo được vun đắp từ kinh nghiệm tích lũy qua từng giai đoạn phát triển, chứ không phải là kết quả của một quá trình hoàn thiện tức thời.
Các nghiên cứu trong nước Khái niệm sáng tạo luôn là đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu sâu rộng của giới khoa học, được tiếp cận đa chiều và toàn diện. Suốt chiều dài lịch sử nhân loại, hoạt động sáng tạo đã đóng góp không nhỏ vào kho tàng giá trị vật chất và tinh thần, thúc đẩy sự tiến bộ vượt bậc trên mọi lĩnh vực. Như vậy, có thể khẳng định rằng, sáng tạo là động lực bền vững, gắn liền với quá trình phát triển không ngừng của xã hội loài người. Trong công trình nghiên cứu "Tâm lý học sáng tạo" (1996), tác giả Nguyễn Huy Tú đã luận giải: sáng tạo bộc lộ rõ nét khi con người đối mặt với những 7 tình huống nan giải, đòi hỏi giải pháp đột phá.
Quá trình này là sự kết hợp hài hòa giữa các phẩm chất và năng lực cá nhân, được vận dụng dựa trên kinh nghiệm tích lũy, kết hợp với tư duy độc lập, nhằm tạo ra những ý tưởng mới mẻ, độc đáo và khả thi, mang lại hiệu quả thiết thực trên phạm vi cá nhân hoặc cộng đồng [20]. Các nhà nghiên cứu Tôn Thân (1995), Trần Luận (1995,1996), và Phạm Văn Hoàn đã chỉ ra rằng, bản chất của sáng tạo nằm ở tính mới lạ, độc đáo và tư duy độc lập. Các tác giả này đã tập trung phân tích sáng tạo trong bối cảnh giáo dục phổ thông, từ tiểu học đến trung học phổ thông. Điểm chung trong quan điểm của họ là: tư duy sáng tạo là dạng tư duy tự chủ, không bị ràng buộc bởi những khuôn mẫu có sẵn; khả năng tạo ra những ý tưởng mới mẻ, mang dấu ấn cá nhân và hiệu quả cao trong giải quyết vấn đề [15].
Chia sẻ quan điểm với Tôn Thân, tác giả Trần Luận nhấn mạnh: sáng tạo hàm ý việc tạo ra, sản sinh ra những giá trị mới. Hai yếu tố then chốt của sáng tạo là tính độc đáo và sự mới mẻ trong sản phẩm tư duy [22]. Năm 1990, Viện Khoa học Giáo dục trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tiềm năng sáng tạo của học sinh. Các công trình nghiên cứu này tập trung khai thác bản chất, cấu trúc tâm lý của sáng tạo, đồng thời đề xuất phương pháp chuẩn đoán, đánh giá và phương thức giáo dục, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người Việt.
Công trình nghiên cứu về tiềm năng sáng tạo còn ở giai đoạn sơ khai, song đã ghi nhận những đóng góp đáng kể từ nhiều nhà nghiên cứu. Nổi bật trong số đó là công trình của Lê Thanh Thủy về ảnh hưởng của tri giác đến tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động hội họa của trẻ 5-6 tuổi; nghiên cứu của Trương Bích Hà về tưởng tượng sáng tạo trong hành động của sinh viên trường Đại học Sân khấu Điện ảnh; công trình của Phạm Thu Hương về tiềm năng sáng tạo và biểu hiện của nó trong vận động theo nhạc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi; nghiên cứu của Vũ Thị Kiều Trang về việc phát huy tính sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi lắp ghép từ 8 nguyên vật liệu tự nhiên và phế liệu; nghiên cứu của Lê Thị Hoàng Trang về các biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của trẻ trong vận động theo nhạc; công trình của Nguyễn Thị Ngọc Kim về các biện pháp bồi dưỡng khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động vẽ tự do; nghiên cứu của Ngô Thị Tuyết Mai về biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng kịch; và nghiên cứu của Phạm Thị Nguyên Chi về biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại khu vực tạo hình. Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia, học giả đã có những đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này thông qua các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và bài giảng về Tâm lý học sáng tạo, tiêu biểu như PGS.TS Nguyễn Huy Tú, TS. Nguyễn Đức Uy, TS.
Trần Tuấn Lộ, TS. Vũ Kim Thanh, ThS. Đinh Minh Châu và ThS. Trần Thị Nga.
Nhận định của tác giả: Sáng tạo ở tuổi mẫu giáo đã được nhiều nhà tâm lý học quan tâm ở những phạm vi, mức độ khác nhau dưới các quan điểm sau: Thứ nhất, sáng tạo của trẻ mẫu giáo là tiền đề cho tính sáng tạo về sau. Nếu tổ chức tốt các hoạt động tiền sáng tạo cho trẻ sẽ có nhiều khả năng trẻ trở thành người sáng tạo cao khi trưởng thành.