CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 11. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm chứng khoán, thị trường chứng khoán s Chứng khoán ty (cổ Chứng khoán là các công cụ thể hiện quyển sở hữu trong một công chính quyền địa phiếu), quyền chủ nợ đối với một Công ty, một Chính phủ hay đã có. phương (trái phiếu) và các công cụ phái sinh trên cơ sở những công cụ và một Chứng khoán là hàng hóa trên TTCK bao gồm : cổ phiếu, trái phiếu đồng quyền lựa số loại khác như quyển mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp là hai đối tượng chính chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư.
Trong đó cổ phiếu và trái phiếu tác động đến sự phát triển của TTCK. % Thị trường chứng khoán nơi điễn TTCK trong điều kiện của nền kính tế hiện đại được quan niệm là dài hạn. Việc mua bán ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và lần này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán sự mua di ban đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sơ cấp. Xét về lại giữa các nhà đầu tư các chứng khoán đã phát hành ở thị trường bán, chuyển mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua khoán.
nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng 1. Vai trò của thị trường chứng khoán thành Trong nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường cùng với sự hình trường sức lao động, thị và phát triển của các thị trường như thị trường hàng hóa, thị như là một trong những trường khoa học kỹ thuật. thì thị trường tài chính được xem Trong đó, yếu tố có vai trò rất lớn trong việc chỉ phối hoạt động các thị trường trên. tiền tệ là nơi thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và TTCK.
Thị trường 5 lưu chuyển vốn ngắn hạn, cung ứng vốn lưu động cho nên kinh tế, còn TTCK là nơi lưu chuyển vốn trung và đài hạn, cung ứng vốn cho đầu tư phát triển thông qua công cụ chứng khoán (chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu ) Vì vậy, một nên kinh tế thị trường hoàn chỉnh không thể thiếu TTCK. $ Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế > C6 vai trò quan trọng trong việc huy động vốn để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu chỉ tiêu của Chính phủ. Trong quá trình tái sản xuất xã hội mở rộng sẽ hình thành hai nguồn vốn tiền tệ, một là nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, hai là nguồn vốn chờ cơ hội đầu tư. Trong đơ, hệ thống ngân hàng và cơ quan tín dụng sẽ thu hút được phần lớn vốn tiễn tệ nhàn rỗi bằng cơ chế tiễn gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn để tái phân phối cho nền kinh tế theo nguyên tắc tín dụng.
Tuy nhiên, ngân hàng chỉ là người trung gian, nên ngân hàng không đủ hấp dẫn để thu hút hết các nguồn tiền tệ nhàn rỗi của xã hội, do đó người có tiễn dư thừa phải chuyển sang dự trữ bằng vàng, ngoại tệ để đảm bảo sự an toàn tài sản của mình. Bên cạnh nguồn vốn tiễn tệ tạm thời nhàn rỗi, trong xã hội của sắn xuất vẫn còn tồn tại một số nguôn vốn khổng lồ bằng tiền tìm cơ hội đầu tư vào sản xuất và kinh doanh để thu lợi nhuận. Các nhà đâu tư không thể đưa nguồn vốn này vào ngân hàng để lấy lãi cho vay, mà họ phải đầu tư trực tiếp vào sản xuất để kiếm lời. TTCK ra đời để thu hút nguồn vốn này và chuyển tải trực tiếp vào các doanh nghiệp công, nông, thương nghiệp.
| > Gop phan diéu hoa vốn giữa các ngành trong nên kinh tế Trước hết, vốn thừa ở ngành này sẽ được chuyển sang ngành thiếu vốn khác nhờ vào việc bán lại các chứng khoán ở thị trường thứ cấp để thu hồi vốn và mua chứng khoán mới ở thị trường sƠ cấp hoặc mua đi bán lại chứng khoán trên thị trường thứ cấp để điều hòa vốn giữa ngành thừa với ngành thiếu vốn. Sau nữa là vốn đầu tư vào các ngành thường gắn với hình thái tự nhiên đã định sẵn của nhà xưởng, máy móc, thiết bị. nên rất khó chuyển hướng đầu tư. Nhờ 6 khoán đó cho người khác, hàng hóa, thị trường tin dung ma bằng cách bán chứng tư mới.
Nhờ thu hồi vốn bằng tiền, chuyển sang mua chứng khoán của ngành đầu vào sản xuất đã bị vào vai trò của TTCK mà sự thụ động của nguồn vốn của đầu tư phá vỡ, tạo ra những động lực mới cho sản xuất và kinh doanh. g cách là Các ngành có lợi nhuận thấp hoặc thiếu vốn phải chọn nhiều phươn cách này, một mặt doanh phát hành cổ phiếu mới, trái phiếu mới. Nhờ vào phương thêm được những nhà đầu nghiệp huy động thêm được vốn, một mặt khác thu hút tư mới tham gia vào quản lý doanh nghiệp, là cơ sở cho cạnh tranh lành mạnh giữa hướng phát các ngành. Do đó, chúng đẩy toàn bộ nên kinh tế chuyển động theo triển đồng đều giữa các ngành.
> TTCK tạo điều kiện thu hút các nguồn đầu tứ từ nước ngoài với nền Vấn để thu hút vốn đâu tư nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng đối tư vốn kinh tế của các nước đang phát triển. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu bằng 2 hình thức : sản + Đầu tư trực tiếp : tức là bỏ vốn vào xây dựng nhà máy, công trình xuất, kinh doanh. điều này không phải nhà đầu tư nào cũng làm được có wu điểm là dễ + Đầu tư thông qua việc mua chứng khoán : hình thức này Thông qua thu hồi vốn và không cần đến một lượng vốn lớn như đầu tư trực tiếp. ngoài sẽ theo dõi và nhận định hoạt động của các TTCK các nhà đầu tư nước ngành, các doanh nghiệp trong nước để có quyết định đầu tư đúng đắn.
tế đó là Như vậy, với việc mỡ ra một kênh huy động vốn mới cho nền kinh trình hoạt động TTCK chúng ta có cơ hội thu hút thêm một nguồn vốn cho quá SXKD của nên kinh tế từ các nhà đầu tư nước ngoài. >TTCN như chiếc “Phong vũ biểu ” của nên kinh tế chủ Như chúng ta đã biết, kinh tế phát triển thì lợi nhuận đem chia cho các tăng lên, đầu tư tăng lên. Lợi nhuận tăng là một yếu tố làm cho giá cả chứng khoán kinh tế suy dung lượng mua bán chứng khoán do đó cũng tăng theo. Ngược lại, 7 “ phong vũ Những nhà hoạch định chính sách và quần lý thường quan sát chiếc tế và phương biểu “ này để phân tích và dự đoán , đề ra các chính sách điều tiết kinh động pháp quần lý kinh tế thích hợp nhằm thông qua TTCK để tác động đến các hoạt của nên kinh tế hoặc ngược lại.
và % Vai trò của TTCK đối với các nền kinh tế chuyển đổi nói chung nên kinh tế Việt Nam nói riêng. > TTCK góp phần vào quá trình cổ phần hóa các DNNN.” ta Đối với các nền kinh tế chuyển đổi nói chung khi nhắc đến TTCK người giữa hai thường nghĩ ngay đến quá trình cố phần hóa của các DNNN, Mối quan hệ động của thành phần này là mối quan hệ tương hỗ. Một mặt sự tổn tại và hoạt trình TTCK giúp cho việc thực hiện cổ phần hóa dễ dàng hơn, mặt khác nhờ có quá hoạt cổ phần hóa mà hàng hóa trên TTCK sẽ đa dạng và phong phú hơn. TTCK chỉ Cổ động thực sự sôi nổi khi mà cả cung lẫn cầu về chứng khoán đều được đảm bảo.
đầu phần hóa sẽ góp phần cung cấp hàng hóa cho TTCK, rồi thông qua TTCK nhà tư sẽ mua cổ phần của các công ty đó và quá trình cổ phần hóa được thực hiện nhanh hơn so với việc cổ phần hóa trong điều kiện không có TCK. ‹$ Vai trò của TTCK. đổi với các doanh nghiệp doanh > TTCK góp phần phát triển thương hiệu và tạo điều kiện cho các nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn. Nhờ vào những quy định tương đối cao về tiêu chuẩn niêm yết và được phổ ty có thể phát biến rộng rãi trên các phương tiện thông un đại chúng, các công triển thương hiệu của mình thông qua TTCK.
Bên cạnh đó, thông qua TTCK khi một doanh nghiệp cần vốn để mỡ rộng khoán vào thị quy mô sản xuất thì doanh nghiệp có thể phát hành các loại chứng hội SXKD, các trường để huy động vốn. Ngược lại, khi doanh nghiệp chưa có cơ doanh nghiệp có thể dự trữ chứng khoán như là một tài sản kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyển thành tiền khi cần thiết thông qua TTCK. > Vai trò của TTCN đốt với chế độ quản trị Công y quản trị công ty Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vấn để thế giới nhằm ngày càng trở thành vấn để thời sự của hầu hết các quốc gia trên p và nền kinh té. tăng cường khả năng cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệ và thúc đẩy TTCK và quản trị công ty có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ được tính hiệu quả, công lẫn nhau.
Quần trị công ty tốt giúp cho TTCK phát huy lại, TTCK sẽ tạo ra khai, minh bạch góp phần bảo vệ người đầu tư tốt hơn. Ngược bố thông tín một kênh thúc đẩy quản trị công ty tốt nhất thông qua cơ chế công thâu tóm và sáp nhập. thường xuyên và tạo môi trường mính bạch cho hoạt động nhà quản trị công ty, Cơ chế này sẽ tạo ra sự cạnh tranh có hiệu quả giữa những nhà quản trị tốt hơn. những nhà quản trị yếu sẽ nhanh chóng bị thay thế bởi những niềm vết, để duy trì được Như vậy có thể nói, sau khi chính thức tham g1a máy tổ chức, có hình ảnh tốt đẹp đối với các nhà đầu tư công ty phải cơ cấu lại bộ ty những biện pháp quan ly dé mang lại hiệu quả ŠXKD thực sự cho công 1.
LÝ LUẬN VE QUY DAU TU CHUNG KHOAN 1. Khái niệm về Quỹ đầu tư chứng khoán hàng thu hút tiền Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân phiếu, tiền tệ, hay nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái lý chuyên nghiệp, các loại tài sản khác. Tất cả các khoán đầu này đều được quản thẩm quyền khác.