Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KÍCH HOẠT NEUTRON LẶP VÒNG Chương này trình bày tóm lược về tình hình nghiên cứu và ứng dụng của phương pháp phân tích kích hoạt neutron lặp vòng (CNAA) ở trong và ngoài nước để giải quyết những khó khăn trong việc phân tích các hạt nhân có thời gian sống ngắn mà kỹ thuật phân tích kích hoạt (NAA) truyền thống không giải quyết được. Bên cạnh đó, phương pháp CNAA theo chuẩn hóa k0 cùng với phần mềm k0-IAEA cũng được giới thiệu. Ngoài ra, hiệu ứng chồng chập xung và thời gian chết cao cũng được trình bày trong chương này bởi chúng là một trong những nguồn gây ra sai số chính trong phương pháp CNAA.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước về phương pháp CNAA Nhu cầu về các kỹ thuật phân tích nhanh, tin cậy cùng với yêu cầu độ nhạy cao để xác định các nguyên tố vi lượng và khả năng phân tích đa nguyên tố, đặc biệt liên quan đến các chương trình quan trắc và nghiên cứu môi trường (cần phân tích một số lượng lớn mẫu) đã thúc đẩy sự phát triển của phương pháp kích hoạt lặp vòng. Ngoài sự cạnh tranh về yếu tố thương mại so với các kỹ thuật phân tích khác, một lý do khác mà phương pháp CNAA ngày càng nhận được nhiều mối quan tâm là do một số hạt nhân sống ngắn là đối tượng nghiên cứu chỉ thị liên quan đến các vấn đề về môi trường và y sinh [6].1: Số liệu hạt nhân của một số nguyên tố được xác định bằng CNAA thông qua các hạt nhân sống ngắn [3,4] TT Ng. Phản ứng Hạt , T1/2, 0, I0 , Eγ, tố hạt nhân nhân % giây barn barn keV 1 O 18 O(n,γ)19O 19 O 0,002 26,9 0,00016 0,00081 197,14 2 F 19 F(n,γ)20F 20 F 1,00 11,02 0,0095 0,039 1633,60 46 3 Sc Sc(n,γ)46mSc 46m Sc 1,00 18,75 9,6 -- 142,53 4 Ge 74 Ge(n,γ)75mGe 75m Ge 0,365 48 0,143 0,35 139,6 5 Se 76 Se(n,γ)77mSe 77m Se 0,090 17,45 21 16 161,93 85 6 Rb Rb(n,γ)86mRb 86m Rb 0,722 61,2 0,05 1275 556,17 103 7 Rh Rh(n,γ)104Rh 104 Rh 1,00 42,3 134 112 555,8 106 8 Pd Pd(n,γ)107mPd 107m Pd 0,273 20,9 0,013 1,16 214,9 4 luan an 109 9 Ag Ag(n,γ)110Ag 110 Ag 0,482 24,6 89 0,2 657,76 10 In 115 In(n,γ) 116mIn 116m In 0,957 14,1 87 -- 1293,6 123 11 Sb Sb(n,γ)124mSb 124m Sb 0,427 93,0 0,035 0,93 645,86 138 12 Ce Ce(n,γ)139mGe 139m Ce 0,0025 56,4 0,15 2 757,0 164 13 Dy Dy(n,γ)165mDy 165m Dy 0,282 75,6 1698 425 515,5 166 14 Er Er(n,γ)167mEr 167m Er 0,336 2,27 15 10 207,8 176 15 Yb Yb(n,γ)177mYb 177m Yb 0,127 6,41 3,8 -- 104 198 16 Pt Pt(n,γ)199mPt 199m Pt 0,072 13,6 0,3 -- 319 17 Hf 178 Hf(n,γ)179mHf 179m Hf 0,273 18,68 53 1039 216 191 18 Ir Ir(n,γ)192mIr 192m Ir 0,373 87 300 1060 58 19 W 182 W(n,γ)183mW 183m W 0,265 5,65 20 600 107,9 206 20 Pb Pb(n,γ)207mPb 207m Pb 0,241 0,80 0,03 0,1 570 Nguồn gốc của phương pháp kích hoạt lặp vòng không được biết rõ ràng. Tuy nhiên, một vài báo cáo đầu tiên đã đề cập rằng mẫu được luân chuyển giữa nguồn chiếu và đầu dò để tăng tỉ số “tín hiệu trên nhiễu” đối với một số hạt nhân quan tâm, đã được thực hiện bởi Anders [4, 5] vào các năm 1960 và 1961.
Mặc dù không đề cập đến thuật ngữ “lặp vòng” nhưng mẫu đã được chiếu lặp lại bởi nguồn neutron từ bia Berylli của máy gia tốc Van-de-Graaff 2 MeV và được đo trên đầu dò NaI(Tl) sử dụng hệ chuyển mẫu nhanh. Mỗi mẫu sau một lần chiếu được đo hai lần liên tục trong khoảng thời gian bằng nhau, phổ thu được đem trừ lẫn nhau (phổ đo trước trừ phổ đo sau). “Sự khác biệt” giữa hai phổ này cho thấy sự hiện diện của các hạt nhân có chu kỳ bán hủy rất ngắn. Vì vậy, phương pháp này có khả năng xác định được một số nguyên tố: O, F, Na, Sc, Ge, Se, Br, Y, Rb, Rh, Ag, Er, Hf, W, Yb, Ir và Au.
Sau đó, Givens [11] và cộng sự, năm 1968 và 1970 , đã đo được nhiều hạt nhân hơn như 16N (7,14 giây) và 24mNa (20 mili giây) bởi thiết lập hệ thống sao cho mẫu cố định đối với cả nguồn chiếu và đầu dò. Tani và cộng sự [12], năm 1969 ở Nhật Bản, sử dụng cấu hình thí nghiệm tương tự đã quan sát được phổ từ 205mPb (4 mili giây) và 207mPb (800 mili giây). Để đạt được độ nhạy yêu cầu, Spyrou và Ozek [13] lần đầu tiên đã sử dụng lò phản ứng như là một nguồn neutron cho CNAA và đã công bố kết quả đo 207mPb (800 mili giây) trong mẫu môi trường. Từ đó, nhiều thiết bị dùng cho CNAA đã được nghiên cứu thiết kế và lắp đặt như ở Anh, Mỹ, Hàn Quốc và Áo [14-16], phương pháp luận và hàng loạt các nghiên cứu ứng dụng đã được thực hiện [17-19].
5 luan an Trong tất cả các loại kích hoạt lặp vòng, hầu hết các nghiên cứu được thực hiện kích hoạt lặp vòng bằng neutron (CNAA). Dựa vào nguồn neutron được sử dụng, CNAA có thể phân loại theo các dạng khác nhau như CNAA dùng lò phản ứng, máy gia tốc, máy phát, và nguồn đồng vị. Dựa vào năng lượng của neutron, CNAA có thể phân loại theo neutron nhiệt, trên nhiệt và neutron nhanh; dựa vào bức xạ phát ra từ hạt nhân phóng xạ, có thể phân loại theo tia gamma và neutron trễ.2 cho thấy các nguyên tố có thể xác định bằng các loại CNAA khác nhau.2: Phân loại CNAA và các nguyên tố được xác định bằng CNAA Neutron Nguồn neutron Bức xạ được đo Nguyên tố Nhiệt LPƯ, máy gia tốc Tia gamma O, F, Sc, Ge, Se, Rb, In, Rh, Pd, Ag, Sb, Dy, Hf, Ce, Er, Yb, Ir, W, Pb, U Nhiệt LPƯ Neutron trễ U, Th Trên nhiệt LPƯ Tia gamma O, F, Ge, Rh, Ag, Ce, Er, Hf, Pt, Ir Nhanh LPƯ, máy gia tốc, Tia gamma B, O, F, S, Cl, Si, Na, Mg, Ti, nguồn đồng vị, Ge, As, Se, Br, Rb, Y, In, Ba, máy phát neutron Ce, Hf, Nd, Sm, Er, Tb, W, Au, Pb Một vài ứng dụng phổ biến của phương pháp CNAA Selen được biết như là một nguyên tố vi lượng thiết yếu trong mẫu sinh học. Hàm lượng của Selen trong các mô sinh học bình thường khoảng <1,0 mg/kg, điều này cũng đồng nghĩa là cần một kỹ thuật phân tích có độ nhạy cao để định lượng nó.
NAA là một kỹ thuật rất nhạy để xác định nguyên tố Selen. Trong hầu hết các trường hợp, phép phân tích được thực hiện bằng phép đo 75Se (T1/2 = 120 ngày), do đó cần thời gian phân tích khá dài. Sử dụng hạt nhân sống ngắn 77mSe (T1/2 = 17,4 giây) có thể giảm đáng kể thời gian và chi phí phân tích. Ngoài ra, giới hạn phát hiện và độ chính xác phân tích có thể được cải thiện bằng kích hoạt lặp vòng.
Trong vài năm qua, hàng loạt các áp dụng CNAA để xác định Selen trong nhiều loại mẫu như mô động vật và mô người, dịch cơ thể, thực phẩm trong chế độ ăn uống hàng ngày [10, 17, 20-26] 6 luan an Bảng 1.3: Số liệu hạt nhân của nguyên tố Selen và ảnh hưởng nhiễu lên Selen trong NAA [21] Số liệu hạt nhân của Selen Hạt nhân gây nhiễu Hạt nhân bền, σth (b)*; Hạt nhân; -ray Hạt nhân -ray (% ) Iepi (b)* (T1/2) (keV) (T1/2) (keV) 74 Se (0.87) 51,8 1,2; 75 Se; 121,1 152 Eu 121,8 181 424 17 (119,8 d) 136,0 Hf 136,3 182 264,7 Ta 264,1 203 279,5 Hg 279,1 76 Se (9.02) 21 1; 77m Se; 161,9 116m In 162,3 16 0,2 (17,4 s) (2,18 s) Flo là một nguyên tố vi lượng thiết yếu trong cơ thể và được tích lũy trong xương. Sâu răng và loãng xương được cho là có liên quan đến sự hấp thụ Flo và hàm lượng của nó trong các mô. Flo chỉ có một hạt nhân duy nhất là 20F (T1/2 = 11,02 giây, Eγ= 1633 keV) và được sử dụng để xác định hàm lượng Flo trong NAA thông qua phản ứng 19F(n,γ)20F. Do 20F có chu kỳ bán hủy rất ngắn là 11,02 giây, cho nên CNAA là phương pháp phù hợp để xác định nó [27-34].
Flo thực sự là nguyên tố đầu tiên được xác định bằng kích hoạt lặp vòng [4, 5]. Flo có một hạt nhân bền là 19F, nó có thể tham gia nhiều phản ứng hạt nhân như được tóm tắt trong Bảng 1.4: Số liệu hạt nhân của nguyên tố Flo Hạt nhân Phản ứng σth Hạt T1/2, Eγ, Xác suất bền, (% ) hạt nhân (b) nhân giây keV phát, % 19 F n,γ 9,5 20 F 11,02 1634 100 19 (100%) n,p 1,35 O 26,91 197 95,9 n,α 7,85 16 N 7,13 6130 69 18 n,2n 0,0073 F 6.600 511 194 Phản ứng bắt neutron nhiệt và trên nhiệt của Flo như sau: 19 F9 + 1n0 → 20F9 + γ (gamma tức thời) 20 F9 (T1/2 = 11 giây)→ (20Ne)* + 0β-1 + (20Ne)* → 20Ne10 + γ (Eγ = 1633 keV) Theo kết quả nghiên cứu của Farooqi [29] giới hạn phát hiện của Flo trong mẫu sinh học có thể đạt được ở mức vài mg/kg bằng CNAA sử dụng LPƯ ở điều kiện Ti = Tc = 10 giây, Td = Tw = 2 giây. Tuy nhiên, cần lưu ý về phản ứng 23Na(n,α)20F và 7 luan an 20 Ne(n,p)20F cũng có thể tạo ra 20F, cho nên sự ảnh hưởng nhiễu cần được hiệu chính cho từng đối tượng mẫu cụ thể. Chì được biết đến như là một nguyên tố độc và có khả năng gây ô nhiễm cao.
Vì vậy, có nhiều sự quan tâm về việc xác định hàm lượng của Chì trong nhiều vật liệu môi trường. Chì chỉ có thể được xác định bằng NAA thông qua một hạt nhân sống rất ngắn, 207mPb. Chu kỳ bán hủy của 207mPb chỉ 0,8 giây làm cho nó rất khó đo bằng kỹ thuật NAA thông thường. Bằng việc sử dụng hệ chuyển mẫu khí nén nhanh kết hợp với kích hoạt lặp vòng, Egan và Spyrou [35] đã xác định được Chì trong một số mẫu môi trường, với điều kiện thời gian Ti = Tc = 2 giây và Td = Tw = 1 giây và với 50 vòng lặp, độ nhạy đạt được là 5µg và giới hạn phát hiện là 30 mg/kg đối với mẫu sinh học.
Các nguyên tố Ag, Sc và Hf thường được xác định bằng kỹ thuật NAA sử dụng hạt nhân sống dài 110mAg (250 ngày), 46Sc (84 ngày) và 181Hf (42 ngày). Tuy nhiên, sử dụng hạt nhân sống ngắn 110Ag (24,6 giây), 46mSc (18,75 giây) và 179mHf (18,68 giây) không chỉ giảm thời gian phân tích mà còn có thể cải thiện giới hạn phát hiện bằng phương pháp lặp vòng. Spyrou đã áp dụng thành công CNAA để phân tích một số mẫu môi trường nhằm xác định Sc, Hf, Ag và cùng một số nguyên tố khác như Dy, Se, Al và V.