Thực Trạng Và Kiến Nghị Phát Triển Nuôi Tôm Sú Tại Xã Thạnh Trị, Huyện Bình Đại, Tỉnh Bến Tre

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp phát triển nông thôn thực trạng và một số kiến nghị nhằm phát triển nuôi tôm, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại Học Bến Tre

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Tốt Nghiệp

2023

79
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tiềm năng và thực trạng nuôi tôm sú tại Thạnh Trị Bình Đại

Xã Thạnh Trị, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre được thiên nhiên ưu đãi với những điều kiện lý tưởng để phát triển nuôi tôm sú. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều từ Biển Đông, khu vực này có nguồn nước lợ dồi dào, hệ thống kênh rạch tự nhiên phong phú, và chất lượng đất đai phù hợp. Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Trung (2007), Thạnh Trị sở hữu tổng diện tích tự nhiên 2.174,36ha, trong đó đất dành cho nuôi trồng thủy sản Bến Tre chiếm tới 906,04ha. Con tôm sú được xác định là vật nuôi chủ lực, chiếm 75,9% tổng diện tích nuôi thủy sản, cho thấy vai trò kinh tế then chốt của nó đối với địa phương. Tuy nhiên, thực trạng phát triển vẫn còn nhiều hạn chế. Việc nuôi tôm còn mang tính tự phát, quy mô nông hộ nhỏ lẻ, và chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có. Phần lớn các hộ vẫn áp dụng mô hình cũ, dẫn đến năng suất chưa cao và hiệu quả kinh tế nuôi tôm chưa tương xứng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, dù số hộ nuôi tôm tăng qua các năm, nhưng năng suất bình quân chỉ dừng ở mức 0,462 tấn/ha. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển đổi sang các mô hình nuôi tôm sú tiên tiến hơn, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao sản lượng, cải thiện thu nhập cho người dân và hướng đến phát triển bền vững ngành tôm.

1.1. Điều kiện tự nhiên lý tưởng cho ngành nuôi tôm sú

Thạnh Trị có địa hình tương đối bằng phẳng, nằm ven sông Cửa Đại và sông Ba Lai, tạo ra vùng bãi triều rộng lớn. Hệ thống kênh rạch chằng chịt không chỉ cung cấp nước mà còn mang lại nguồn phù sa màu mỡ, ổn định môi trường ao nuôi. Độ mặn nước nuôi tôm dao động trong khoảng thích hợp (15-25‰), là điều kiện sống tối ưu cho tôm sú phát triển. Khí hậu với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm là 26°C, ít biến động đột ngột, giúp giảm thiểu rủi ro do thời tiết. Theo tài liệu nghiên cứu, vùng trũng có độ cao 0,2 – 0,5m chiếm đến 70% diện tích tự nhiên của xã, đây là khu vực cực kỳ thích hợp cho việc quy hoạch các vùng nuôi tôm sú thâm canhnuôi tôm sú quảng canh cải tiến.

1.2. Phân tích vai trò và hiệu quả kinh tế nuôi tôm thực tế

Ngành nuôi tôm sú đóng vai trò trụ cột trong cơ cấu kinh tế của xã Thạnh Trị. Nó không chỉ tạo ra nguồn thu nhập chính cho hàng ngàn hộ dân mà còn giải quyết việc làm cho lao động địa phương. Giá tôm sú thương phẩm luôn ở mức cao, mang lại lợi nhuận hấp dẫn. Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Trung (2007) cho thấy hiệu quả kinh tế nuôi tôm thực tế chưa cao do nhiều yếu tố. Chi phí đầu vào như thức ăn, con giống chiếm tỷ trọng lớn trong khi năng suất còn hạn chế. Sự chênh lệch về lợi nhuận giữa các mô hình nuôi là rất đáng kể. Cụ thể, mô hình ao đất chạy quạt nước (MH1) mang lại lợi nhuận 47,72 triệu đồng/0.5ha, trong khi mô hình có thêm sục khí đáy (MH2) đạt tới 108 triệu đồng/0.5ha. Điều này cho thấy việc đầu tư công nghệ là chìa khóa để tối ưu hóa lợi nhuận.

II. Top 3 thách thức lớn khi nuôi tôm sú tại Thạnh Trị Bến Tre

Mặc dù sở hữu tiềm năng lớn, việc phát triển nuôi tôm sú tại xã Thạnh Trị vẫn đối mặt với nhiều khó khăn mang tính hệ thống. Những thách thức này không chỉ làm giảm hiệu quả kinh tế nuôi tôm mà còn đe dọa đến sự phát triển bền vững của toàn ngành. Thách thức lớn nhất, theo khảo sát 60 hộ nông dân của Nguyễn Xuân Trung (2007), là vấn đề thiếu vốn và kỹ thuật. Hơn 90% hộ nuôi đều có nhu cầu về vốn và hỗ trợ kỹ thuật nhưng khả năng tiếp cận còn hạn chế. Trình độ dân trí chưa cao khiến việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất gặp nhiều trở ngại. Vấn đề thứ hai là chất lượng con giống tôm sú và dịch bệnh. Nguồn giống trôi nổi, kém chất lượng dẫn đến tỷ lệ sống thấp và dễ bùng phát dịch bệnh, gây thiệt hại nặng nề. Cuối cùng, sự biến động của thị trường tiêu thụ tôm sú và hạ tầng chưa đồng bộ cũng là một rào cản. Người dân chủ yếu bán qua thương lái, dễ bị ép giá, làm giảm lợi nhuận. Cơ sở hạ tầng như điện, đường giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất quy mô lớn, đặc biệt là nuôi tôm sú công nghệ cao.

2.1. Hạn chế về vốn đầu tư và trình độ kỹ thuật của nông hộ

Thiếu vốn là rào cản hàng đầu. Chi phí đầu tư ban đầu cho một vụ nuôi tôm sú thâm canh là rất lớn, bao gồm chi phí cải tạo ao, mua con giống, thức ăn và máy móc. Nghiên cứu chỉ ra 99% hộ đang nuôi và 98% hộ chưa nuôi đều có nhu cầu vay vốn. Tuy nhiên, nhiều hộ không đủ điều kiện vay do vướng mắc thủ tục, chưa có chủ quyền đất. Bên cạnh đó, trình độ kỹ thuật của đa số nông dân còn hạn chế. Việc quản lý môi trường ao nuôi, kiểm soát thức ăn cho tôm sú, và kỹ năng phòng trị bệnh trên tôm sú vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, thiếu cơ sở khoa học, dẫn đến rủi ro cao và năng suất không ổn định.

2.2. Rủi ro từ con giống kém chất lượng và dịch bệnh bùng phát

Chất lượng con giống tôm sú chất lượng là yếu tố quyết định 50% thành công của vụ nuôi. Trước đây, người dân thường mua giống từ các nguồn không rõ ràng, không qua kiểm dịch, mang theo mầm bệnh. Tình trạng này gây ra tỷ lệ hao hụt cao ngay từ giai đoạn đầu. Hiện nay, dù đã có các cơ sở cung ứng giống tại địa phương nhưng vấn đề kiểm soát chất lượng vẫn là một thách thức. Các bệnh phổ biến như đốm trắng, đầu vàng, bệnh gan tụy... vẫn thường xuyên xảy ra, đặc biệt ở các ao nuôi có mật độ cao nhưng không đảm bảo quy trình xử lý ao nuôi và quản lý môi trường.

III. Hướng dẫn mô hình nuôi tôm sú hiệu quả nhất tại Bình Đại

Để giải quyết các thách thức và tối ưu hóa lợi nhuận, việc áp dụng các mô hình nuôi tiên tiến là giải pháp tất yếu. Dựa trên phân tích so sánh của Nguyễn Xuân Trung (2007), mô hình nuôi tôm sú công nghiệp trong ao đất có hệ thống quạt nước kết hợp sục khí đáy (MH2) đã chứng tỏ hiệu quả vượt trội so với mô hình truyền thống chỉ có quạt nước (MH1). Cụ thể, với cùng quy mô 0,5ha, MH2 cho doanh thu cao hơn 72 triệu đồng và lợi nhuận chênh lệch tới 60,28 triệu đồng. Mô hình này không chỉ tăng mật độ nuôi mà còn cải thiện đáng kể môi trường ao nuôi, cung cấp đủ oxy, giảm thiểu khí độc, từ đó nâng cao tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm. Việc áp dụng thành công mô hình này đòi hỏi sự đầu tư bài bản ngay từ đầu và tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật nuôi tôm sú công nghệ cao. Quy trình bao gồm các bước từ xây dựng và chuẩn bị ao, lựa chọn con giống, quản lý thức ăn, đến kiểm soát chất lượng nước. Đây là hướng đi bền vững giúp người dân xã Thạnh Trị làm giàu từ con tôm.

3.1. Kỹ thuật chuẩn bị và quy trình xử lý ao nuôi chuyên sâu

Chuẩn bị ao là bước nền tảng, quyết định sự thành bại của vụ nuôi. Quy trình xử lý ao nuôi theo mô hình MH2 yêu cầu ao phải được nạo vét kỹ lớp bùn đáy, phơi ao từ 7-10 ngày để diệt mầm bệnh. Sau đó, tiến hành bón vôi để điều chỉnh pH đất và nước. Một điểm quan trọng của mô hình này là cần có ao lắng chiếm khoảng 30% diện tích để xử lý nước trước khi cấp vào ao nuôi, giúp hạn chế mầm bệnh từ bên ngoài. Trước khi thả giống, cần gây màu nước (tảo) bằng các sản phẩm vi sinh cho tôm để tạo nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu và ổn định môi trường. Các chỉ số như pH (7.5 - 8.3), độ kiềm (>80ppm), độ trong (30-40cm) phải được kiểm tra và đảm bảo đạt chuẩn.

3.2. Bí quyết quản lý thức ăn và môi trường ao nuôi tối ưu

Quản lý thức ăn cho tôm súmôi trường ao nuôi là hai yếu tố then chốt trong suốt quá trình. Hệ thống quạt nước và sục khí đáy phải hoạt động liên tục để đảm bảo hàm lượng oxy hòa tan luôn ở mức cao và gom chất thải vào giữa ao. Lượng thức ăn phải được điều chỉnh hợp lý dựa trên trọng lượng và sức ăn của tôm thông qua việc kiểm tra sàng ăn (nhá) hàng ngày. Cho ăn thừa không chỉ gây lãng phí chi phí mà còn làm ô nhiễm đáy ao, tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát triển. Việc sử dụng định kỳ các chế phẩm sinh học để phân hủy mùn bã hữu cơ và ổn định chất lượng nước là rất cần thiết, giúp tôm khỏe mạnh và tăng khả năng kháng bệnh.

IV. Bí quyết phát triển nuôi tôm sú bền vững tại xã Thạnh Trị

Để phát triển nuôi tôm sú tại Thạnh Trị một cách bền vững, việc áp dụng mô hình kỹ thuật cao là chưa đủ. Cần có những giải pháp đồng bộ từ nhiều phía, bao gồm chính quyền, doanh nghiệp và chính người nông dân. Trọng tâm là xây dựng một chuỗi giá trị tôm sú hoàn chỉnh, từ khâu cung ứng đầu vào đến chế biến và tiêu thụ. Điều này giúp giảm sự phụ thuộc vào các yếu tố trung gian và ổn định đầu ra cho sản phẩm. Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Trung (2007) đã nhấn mạnh các giải pháp cốt lõi về vốn, con giống, kỹ thuật và thị trường. Cần có chính sách hỗ trợ nông dân nuôi tôm một cách thiết thực, đặc biệt là về tín dụng, để họ có đủ nguồn lực đầu tư, nâng cấp mô hình sản xuất. Việc liên kết các hộ nuôi nhỏ lẻ thành các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã nuôi tôm Bình Đại sẽ giúp tăng sức mạnh trong đàm phán giá cả đầu vào và đầu ra, đồng thời dễ dàng tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ, hướng tới một nền nuôi trồng thủy sản Bến Tre hiện đại và hiệu quả.

4.1. Giải pháp về vốn vay và chính sách hỗ trợ nông dân

Để tháo gỡ nút thắt về vốn, chính quyền địa phương cần phối hợp với các ngân hàng để đơn giản hóa thủ tục vay vốn, nâng cao định mức và kéo dài thời hạn vay. Việc đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ tạo điều kiện cho nông dân thế chấp vay vốn. Ngoài ra, cần triển khai các chính sách hỗ trợ nông dân nuôi tôm như trợ giá con giống, vật tư đầu vào hoặc hỗ trợ lãi suất cho các hộ áp dụng mô hình nuôi tôm sú công nghệ cao, giúp khuyến khích người dân mạnh dạn đầu tư và tái sản xuất.

4.2. Xây dựng chuỗi giá trị và liên kết thị trường tiêu thụ

Để giải quyết bài toán đầu ra, cần phá vỡ thế độc quyền của thương lái bằng cách xây dựng các kênh liên kết trực tiếp giữa người nuôi và các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Việc thành lập hợp tác xã nuôi tôm Bình Đại là một giải pháp hữu hiệu. Hợp tác xã sẽ đứng ra ký kết các hợp đồng bao tiêu sản phẩm, đảm bảo giá tôm sú thương phẩm ổn định và có lợi cho người dân. Đồng thời, việc xây dựng thương hiệu “Tôm sú Bình Đại” gắn liền với các tiêu chuẩn chất lượng như VietGAP trong nuôi tôm sẽ giúp nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ tôm sú cả trong và ngoài nước.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp phát triển nông thôn thực trạng và một số kiến nghị nhằm phát triển nuôi tôm sú trên đại bàn xã thạnh trị huyện bình đại tỉnh bến tre

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu. Chương nêu lên ly do của việc chon đề tài nghiên cứu, được nêu cụ thé trong phan đặt van đề. Ngoài ra còn có nội dung nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi va câu trúc của khoá luận. Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu.

Trình bày chỉ tiết những định nghĩa nuôi trồng thuỷ sản, khái niệm về nuôi trồng thuỷ sản, vai trò của ngành nuôi trồng thuỷ sản đối với nền kinh tế, vai trò của ngành thuỷ sản, đặt trưng ngành thuỷ sản, khái niệm kinh tế hộ nông dân, tầm quan trọng của nông hộ và kinh tế nông hộ trong phát triển nông nghiệp nông thôn. Bên cạnh đó, sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong việc thực hiện dé tài và các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tẾ. Chương 3: Tổng quan. Giới thiệu tổng quát về xã Thạnh Trị, địa bàn thực hiện đề tài để thấy rõ những thuận lợi và khó khăn trong nông nghiệp, chăn nuôi và cả thuỷ sản.

Chương 4: Kết quả và thảo luận. - - Xác định hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôn sú theo hình thức công nghiệp. - So sánh với mô hình nuôi tôm st bằng ao đất chạy quạt nước dé thay được lợi ích vượt trội của mô hình nuôi ao đất chạy quạt nước + sục khí đáy. - _ Rút ra kết luận về nuôi tôm sii tại Thanh Trị.

- Duara các giải pháp dé phát triển loại hình sản xuất này. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Kết luận và đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sú, có thể đem lại thu nhập ôn định cho người nuôi, đồng thời dé ra phương hướng để phát triển rộng mô hình này. CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.

Định nghĩa nuôi trồng thuỷ sản Nuôi trồng thuỷ sản là bất kỳ phương tiện gì của con người nhằm cải thiện tăng trưởng của một thuỷ sinh vật nào đó trong một diện tích mặt nước nhất định. Nuôi trồng thuỷ sản là một hay nhiều sự tác động của con người nhằm can thiệp vào chu kỳ sống tự nhiên của một loài thuỷ sinh vật. FAO (1988): Nuôi trồng thuỷ sản là nuôi các thuỷ sinh vật bao gồm cá, nhuyễn thé, giáp xác và thuỷ thực vật. Nuôi thuỷ sản hàm ý một số hình thức can thiệp trong quá trình nuôi để thúc day sản xuất chang hạn như thả giống đều đặn, cho ăn, bảo vệ khỏi địch hai,.Vé mặt sở hữu cũng bao gồm cá thé và tập thể đối với các đối tượng nuôi.

Khái niệm về nuôi trồng thuỷ sản Nuôi trồng thuỷ sản là hoạt động đem con giống tự nhiên hay nhân tạo thả vào thiết bị nuôi và đối tượng nuôi được sở hữu trong suốt quá trình nuôi. - Sản xuất con giống nhân tạo cho nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt được tăng cường bởi nuôi trồng. - Tôm, cá thực phẩm cho tiêu thụ trực tiếp của con người. - Nuôi trồng thuỷ sản cũng bao gồm sản xuất hay vỗ béo cá, tôm tự nhiên.

Nuôi trồng thuý sản là nuôi trồng các sinh vật thuỷ sinh, bao gồm cá, giáp xác, nhuyễn thé và thực vật thuỷ sinh. Nuôi trồng thuy sản đã từng 1a một hệ thống sản xuất lương thực tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong thập kỷ qua. Nhôi trồng là ám chỉ một số dang can thiệp vào tiến trình nuôi nắng, chăm sóc dé gia tăng sản lượng, chang hạn như: Chọn giống, cho ăn, phòng ngừa dich hai,. Vai trò của ngành nuôi trồng thuý sản đối với nền kinh tế Nuôi trồng thuỷ sản ngày càng có vai trò quan trọng hơn so với khai thác hải sản cả về sản lượng, chất hrong cũng như tính chủ động trong sản xuất.

Điều này tất yếu dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tế mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tẾ cao. Việt Nam có nhiều tiềm năng dé phát triển nuôi trồng thuy sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến năm 2003, đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, Ig và 254.835 ha nước ngọt dé nuôi thuỷ sản. Nuôi nước ngọt đang có bước chuyên mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc sang sản xuất hàng hoá lớn, điển hình là việc phát triển nuôi cá tra, cá ba sa xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế cao, nuôi đặc sản được mở rộng, sự xuất hiện hàng loạt các trang trại nuôi chuyên canh (hoặc canh tác tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng thuỷ sản làm hạt nhân) chuyên đổi phương thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến sang bán thâm canh và thâm canh đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.

Ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác. Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003. Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội ngành Thuý sản thời kỳ 1991 - 2000 đã được hoàn thành vượt mức. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản tương đương với các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.

Điều đó chứng tỏ ngành thuỷ sản đang dần chuyển từ sản xuất mang nặng tính nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh theo hướng công nghiệp hoá. Vai trò của ngành thuỷ san - Cung cấp thực phẩm cho nhu cầu của con người, góp phan cải thiện tình trang suy dinh dưỡng do thiếu đạm, đóng góp cho sự an toàn thực phẩm. - Cung cấp công ăn việc làm, góp phần cải thiện thu nhập cho nông dân ở vùng nông thôn. - Góp phan tiết kiệm ngoại tệ cho sự đầu tư phát triển công nghiệp.

- Gia tăng tích luỹ ngoại té từ xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản cho sự đầu tư phát triển công nghiệp. - Tạo ra thị trường cho các sản phẩm công nghiệp. - Cung cấp nguyên liệu cho các công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp. Đặc trưng ngành thuỷ sản Sản xuất thuỷ sản mang tính mùa vụ, phụ thuộc điêu kiện khí hậu / địa lý / sinh thái, điều kiện kinh tế - xã hội, thị trường.

Khái niệm kinh tế hộ nông dân Nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp có quyền kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu lao động của gia đình để sản xuất thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yêu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng không hoàn hảo cao. Tâm quan trọng của nông hộ và kinh tế nông hộ Nghiên cứu kinh tế nông thôn là nghiên cứu mọi hoạt động sản xuất kinh tế diễn ra ở nông thôn như: sản xuất nông nghiệp và các địch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp. Hoạt động kinh tế ở nông thôn rất đa dạng và phong phú gắn với nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nông nghiệp, kinh tế trang trại, kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác. Thực tế hiện nay ở nước ta, kinh tế nông thôn chiếm ưu thế về tỉ trọng và quy mô đóng góp sản phẩm cho xã hội nông thôn nói riêng va cho nhu cầu toàn xã hội nói chung.

Từ hoàn cảnh thực tế nước ta và kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới cho thấy, để phát triển nông thôn, Nhà nước cần quan tâm trước tiên đến phát triển kinh tế nông thôn mà đặc biệt chú trọng đến kinh tế nông hộ. Vai trò của nông hô. Hoạt động kinh tế chủ yếu của nước ta là nông nghiệp thì nông hộ là đối tượng nghiên cứu chính, mà hầu hết các nhà nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn và xã hội học nông thôn quan tâm. Định nghĩa xoay quanh hộ nông dân về cơ ban thống nhất rằng: “Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở và được xã hội thừa nhận”, sản xuất nông nghiệp tại nông thôn.

Vai trò kinh tế nông hô. Kinh tế hộ là mô hình kinh tế phổ biến và chiếm tỉ trọng lớn trong sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp. Hơn thế nữa, hộ nông dân và xã hội nông thôn còn là nguồn cung cấp lao động đôi dào để phát triển các ngành nghề ở 7 nông thôn nói riêng và đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động cho các ngành công nghiệp, dịch vụ nói chung, góp phan phát triển nông thôn và phát triển đất nước theo hướng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá. Nông thôn còn là thị trường tiêu thụ sản phẩm quan trọng vì dân cư với tỉ trọng khá cao trên 70% so với tổng dân số cả nước.

Kinh tế hộ thường có quy mô sản xuất không lớn, tận dụng khá tốt điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lợi khác để phát triển sản xuất. Trong canh tác đã năng động tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, từng bước vươn lên thích nghi với sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trường. Song, do quy mô sản xuất nhỏ lại thiếu liên kết hợp tác sản xuất nên hàng hóa không đủ, thiếu tính đồng đều về năng suất và chất lượng nên khả năng cạnh tranh có hạn. Vì thế, chúng ta cần có những chủ trương chính sách phù hợp của nhà nước để tạo công ăn việc làm, có những mô hình kinh tế hợp tác phù hợp để lôi cuốn các hộ nông dân tự nguyện tham gia.

Sơ lược chung về tôm sú 2. Đặc điểm phân loại Ngành: Chân khớp — Arthropoda Lớp: Giáp xác — Crustacea Bộ: Mười chân — Decapoda Họ: Tôm he — Penaeidae Giống: Penaeus Loài: Penaeus monodon 2. Đặc điểm phân bố Loài tôm sú (Penaeus monodom) phân bố ở vùng An Độ Dương, Tây Thái Bình Dương. Tôm sú thích sống vùng nước trong, xa cửa sông, độ trong cao.

Ở Việt Nam, tôm sú phân bố chủ yếu ở ven biển các tỉnh Miền Trung từ Quãng Bình đến Vũng Tàu. Miền Nam hau như không gặp ngoại từ vùng biển Kiêng Giang. Trong những năm gần đây, do sự di chuyên giống từ Miền Trung vào nuôi ở Miền Nam làm xuất hiện tôm st trong tự nhiên khá nhiều. Sự phân bố theo độ sâu phụ thuộc theo giai đoạn phát triển.

Giai đoạn ấu trùng và P < 15 tôm sống trôi nổi tầng mặt và tầng giữa. Cuối giai đoạn Post — larvae tôm bắt đầu chuyến sang sống đáy. Giai đoạn ấu niên và thiếu niên tôm sống ở độ sâu không quá 6 mét đến giai đoạn sắp trưởng thành và trưởng thành tôm có xu hướng di chuyền ngày càng xa bờ, sống ở vùng triều và ngoài khơi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ