Mở đầu. Chương nêu lên ly do của việc chon đề tài nghiên cứu, được nêu cụ thé trong phan đặt van đề. Ngoài ra còn có nội dung nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi va câu trúc của khoá luận. Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Trình bày chỉ tiết những định nghĩa nuôi trồng thuỷ sản, khái niệm về nuôi trồng thuỷ sản, vai trò của ngành nuôi trồng thuỷ sản đối với nền kinh tế, vai trò của ngành thuỷ sản, đặt trưng ngành thuỷ sản, khái niệm kinh tế hộ nông dân, tầm quan trọng của nông hộ và kinh tế nông hộ trong phát triển nông nghiệp nông thôn. Bên cạnh đó, sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong việc thực hiện dé tài và các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tẾ. Chương 3: Tổng quan. Giới thiệu tổng quát về xã Thạnh Trị, địa bàn thực hiện đề tài để thấy rõ những thuận lợi và khó khăn trong nông nghiệp, chăn nuôi và cả thuỷ sản.
Chương 4: Kết quả và thảo luận. - - Xác định hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôn sú theo hình thức công nghiệp. - So sánh với mô hình nuôi tôm st bằng ao đất chạy quạt nước dé thay được lợi ích vượt trội của mô hình nuôi ao đất chạy quạt nước + sục khí đáy. - _ Rút ra kết luận về nuôi tôm sii tại Thanh Trị.
- Duara các giải pháp dé phát triển loại hình sản xuất này. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Kết luận và đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sú, có thể đem lại thu nhập ôn định cho người nuôi, đồng thời dé ra phương hướng để phát triển rộng mô hình này. CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Định nghĩa nuôi trồng thuỷ sản Nuôi trồng thuỷ sản là bất kỳ phương tiện gì của con người nhằm cải thiện tăng trưởng của một thuỷ sinh vật nào đó trong một diện tích mặt nước nhất định. Nuôi trồng thuỷ sản là một hay nhiều sự tác động của con người nhằm can thiệp vào chu kỳ sống tự nhiên của một loài thuỷ sinh vật. FAO (1988): Nuôi trồng thuỷ sản là nuôi các thuỷ sinh vật bao gồm cá, nhuyễn thé, giáp xác và thuỷ thực vật. Nuôi thuỷ sản hàm ý một số hình thức can thiệp trong quá trình nuôi để thúc day sản xuất chang hạn như thả giống đều đặn, cho ăn, bảo vệ khỏi địch hai,.Vé mặt sở hữu cũng bao gồm cá thé và tập thể đối với các đối tượng nuôi.
Khái niệm về nuôi trồng thuỷ sản Nuôi trồng thuỷ sản là hoạt động đem con giống tự nhiên hay nhân tạo thả vào thiết bị nuôi và đối tượng nuôi được sở hữu trong suốt quá trình nuôi. - Sản xuất con giống nhân tạo cho nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt được tăng cường bởi nuôi trồng. - Tôm, cá thực phẩm cho tiêu thụ trực tiếp của con người. - Nuôi trồng thuỷ sản cũng bao gồm sản xuất hay vỗ béo cá, tôm tự nhiên.
Nuôi trồng thuý sản là nuôi trồng các sinh vật thuỷ sinh, bao gồm cá, giáp xác, nhuyễn thé và thực vật thuỷ sinh. Nuôi trồng thuy sản đã từng 1a một hệ thống sản xuất lương thực tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong thập kỷ qua. Nhôi trồng là ám chỉ một số dang can thiệp vào tiến trình nuôi nắng, chăm sóc dé gia tăng sản lượng, chang hạn như: Chọn giống, cho ăn, phòng ngừa dich hai,. Vai trò của ngành nuôi trồng thuý sản đối với nền kinh tế Nuôi trồng thuỷ sản ngày càng có vai trò quan trọng hơn so với khai thác hải sản cả về sản lượng, chất hrong cũng như tính chủ động trong sản xuất.
Điều này tất yếu dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tế mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tẾ cao. Việt Nam có nhiều tiềm năng dé phát triển nuôi trồng thuy sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến năm 2003, đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, Ig và 254.835 ha nước ngọt dé nuôi thuỷ sản. Nuôi nước ngọt đang có bước chuyên mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc sang sản xuất hàng hoá lớn, điển hình là việc phát triển nuôi cá tra, cá ba sa xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế cao, nuôi đặc sản được mở rộng, sự xuất hiện hàng loạt các trang trại nuôi chuyên canh (hoặc canh tác tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng thuỷ sản làm hạt nhân) chuyên đổi phương thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến sang bán thâm canh và thâm canh đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác. Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003. Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội ngành Thuý sản thời kỳ 1991 - 2000 đã được hoàn thành vượt mức. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản tương đương với các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Điều đó chứng tỏ ngành thuỷ sản đang dần chuyển từ sản xuất mang nặng tính nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh theo hướng công nghiệp hoá. Vai trò của ngành thuỷ san - Cung cấp thực phẩm cho nhu cầu của con người, góp phan cải thiện tình trang suy dinh dưỡng do thiếu đạm, đóng góp cho sự an toàn thực phẩm. - Cung cấp công ăn việc làm, góp phần cải thiện thu nhập cho nông dân ở vùng nông thôn. - Góp phan tiết kiệm ngoại tệ cho sự đầu tư phát triển công nghiệp.
- Gia tăng tích luỹ ngoại té từ xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản cho sự đầu tư phát triển công nghiệp. - Tạo ra thị trường cho các sản phẩm công nghiệp. - Cung cấp nguyên liệu cho các công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp. Đặc trưng ngành thuỷ sản Sản xuất thuỷ sản mang tính mùa vụ, phụ thuộc điêu kiện khí hậu / địa lý / sinh thái, điều kiện kinh tế - xã hội, thị trường.
Khái niệm kinh tế hộ nông dân Nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp có quyền kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu lao động của gia đình để sản xuất thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yêu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng không hoàn hảo cao. Tâm quan trọng của nông hộ và kinh tế nông hộ Nghiên cứu kinh tế nông thôn là nghiên cứu mọi hoạt động sản xuất kinh tế diễn ra ở nông thôn như: sản xuất nông nghiệp và các địch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp. Hoạt động kinh tế ở nông thôn rất đa dạng và phong phú gắn với nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nông nghiệp, kinh tế trang trại, kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác. Thực tế hiện nay ở nước ta, kinh tế nông thôn chiếm ưu thế về tỉ trọng và quy mô đóng góp sản phẩm cho xã hội nông thôn nói riêng va cho nhu cầu toàn xã hội nói chung.
Từ hoàn cảnh thực tế nước ta và kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới cho thấy, để phát triển nông thôn, Nhà nước cần quan tâm trước tiên đến phát triển kinh tế nông thôn mà đặc biệt chú trọng đến kinh tế nông hộ. Vai trò của nông hô. Hoạt động kinh tế chủ yếu của nước ta là nông nghiệp thì nông hộ là đối tượng nghiên cứu chính, mà hầu hết các nhà nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn và xã hội học nông thôn quan tâm. Định nghĩa xoay quanh hộ nông dân về cơ ban thống nhất rằng: “Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở và được xã hội thừa nhận”, sản xuất nông nghiệp tại nông thôn.
Vai trò kinh tế nông hô. Kinh tế hộ là mô hình kinh tế phổ biến và chiếm tỉ trọng lớn trong sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp. Hơn thế nữa, hộ nông dân và xã hội nông thôn còn là nguồn cung cấp lao động đôi dào để phát triển các ngành nghề ở 7 nông thôn nói riêng và đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động cho các ngành công nghiệp, dịch vụ nói chung, góp phan phát triển nông thôn và phát triển đất nước theo hướng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá. Nông thôn còn là thị trường tiêu thụ sản phẩm quan trọng vì dân cư với tỉ trọng khá cao trên 70% so với tổng dân số cả nước.
Kinh tế hộ thường có quy mô sản xuất không lớn, tận dụng khá tốt điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lợi khác để phát triển sản xuất. Trong canh tác đã năng động tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, từng bước vươn lên thích nghi với sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trường. Song, do quy mô sản xuất nhỏ lại thiếu liên kết hợp tác sản xuất nên hàng hóa không đủ, thiếu tính đồng đều về năng suất và chất lượng nên khả năng cạnh tranh có hạn. Vì thế, chúng ta cần có những chủ trương chính sách phù hợp của nhà nước để tạo công ăn việc làm, có những mô hình kinh tế hợp tác phù hợp để lôi cuốn các hộ nông dân tự nguyện tham gia.
Sơ lược chung về tôm sú 2. Đặc điểm phân loại Ngành: Chân khớp — Arthropoda Lớp: Giáp xác — Crustacea Bộ: Mười chân — Decapoda Họ: Tôm he — Penaeidae Giống: Penaeus Loài: Penaeus monodon 2. Đặc điểm phân bố Loài tôm sú (Penaeus monodom) phân bố ở vùng An Độ Dương, Tây Thái Bình Dương. Tôm sú thích sống vùng nước trong, xa cửa sông, độ trong cao.
Ở Việt Nam, tôm sú phân bố chủ yếu ở ven biển các tỉnh Miền Trung từ Quãng Bình đến Vũng Tàu. Miền Nam hau như không gặp ngoại từ vùng biển Kiêng Giang. Trong những năm gần đây, do sự di chuyên giống từ Miền Trung vào nuôi ở Miền Nam làm xuất hiện tôm st trong tự nhiên khá nhiều. Sự phân bố theo độ sâu phụ thuộc theo giai đoạn phát triển.
Giai đoạn ấu trùng và P < 15 tôm sống trôi nổi tầng mặt và tầng giữa. Cuối giai đoạn Post — larvae tôm bắt đầu chuyến sang sống đáy. Giai đoạn ấu niên và thiếu niên tôm sống ở độ sâu không quá 6 mét đến giai đoạn sắp trưởng thành và trưởng thành tôm có xu hướng di chuyền ngày càng xa bờ, sống ở vùng triều và ngoài khơi.